Bí quyết trồng đu đủ đạt hiệu quả cao

Đu đủ là một trong những loại cây ăn trái vừa ngon vừa giàu dinh dưỡng nên thị trường lúc nào cũng tiêu thụ mạnh. Do đó, cây đu đủ ngày càng được trồng phổ biến trên cả nước.

Tuy nhiên không phải ai cũng trồng đạt hiệu quả cao vì đây là một loài cây tương đối khó tính.

Sau nhiều năm gắn bó vời nghề trồng đu đủ, một loại cây ăn trái ngắn ngày, anh Nguyễn Văn Bằng và em ruột là Nguyễn Văn Trường cùng ở ấp An Hòa, xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách – Sóc Trăng đã thành công với mô hình trồng đu đủ.

Vườn đu đủ của anh Bằng ra trái đầu vụ

Theo anh Bằng, đu đủ tuy dễ trồng, công chăm sóc nhẹ hơn trồng rau màu, vốn đầu tư nhẹ, mau ăn, nhưng muốn đạt năng suất và chất lượng cao, người trồng trước hết phải biết chọn giống, chọn đất và chú ý về khâu kỹ thuật trong suốt quá trình từ lúc gieo hạt cho đến khi cây trưởng thành.

Bí quyết làm cho cây đu đủ tăng trưởng nhanh và sạch bệnh là khâu xử lý đất. Đầu tiên là phải xới đất cho xốp, lên liếp hoặc đắp mô. Kế đến là bón lót vôi, lân, ka li cộng thêm với phân chuồng hoai trước khi đặt cây trồng. Đu đủ ưa đất nạc, cao ráo và ánh nắng. Ánh nắng rất quan trọng đối với cây đu đủ, nếu thiếu ánh sáng cây sẽ chậm phát triển, dễ bị bệnh, trái không sai và không to.

Đu đủ anh trồng là giống ruột vàng và ruột đỏ. Để cây phát triển tốt, anh tự chọn hạt giống đem về ngâm, ủ, cho đến khi hạt nẩy mầm mới gieo vào các bầu đất. Khi cây được 4, 5 lá, cao 15 – 20cm thì bắt đầu trồng xuống đất. Thông thường một cây đu đủ trồng đạt yêu cầu có thể cho trái từ tháng thứ bảy và trái kéo dài liên tục từ 7 tháng đến 1 năm sau mới chấm dứt. Trồng đúng kỹ thuật là giữ cho cây trồng tuyệt đối không bị úng nước và ngã đổ. Muốn vậy, nhà vườn phải theo dõi đường thoát nước, dùng cây chống đỡ gió bão một cách an toàn và thường xuyên cắt bỏ những trái không đạt chất lượng. Có như thế trái mới to và năng suất cao.

Hiện hai anh em trồng chung được 6 công đang vào mùa thu hoạch, bình quân mỗi công trồng 300 cây (tổng cộng 1.800 cây). Các anh cho biết nếu trồng đạt kỹ thuật, bình quân mỗi cây cho năng suất từ 20 – 30kg/vụ/năm.

Thời gian đầu mỗi ngày các anh hái trái một lần, mỗi lần 2 tấn. Hái xong dùng giấy báo gói lại từng trái rồi cho vào thùng xốp chuyển ra Hà Nội. Khi trái bắt đầu thưa, mỗi tuần hái hai lần hoặc một lần. Giá bán hiện nay tại vườn là 5.000đ/kg. Nếu bán lẽ giá sẽ cao hơn. Tính ra mỗi vụ đu đủ các anh thu nhập trên 200 triệu đồng. Năm nào hàng hút thu nhập sẽ cao hơn. Tính ra ngon ăn hơn trồng rau màu.

Ưu điểm của cây đu đủ là mau ăn, giá cả ổn định vì ngoài đu đủ chín, thị trường đu đủ xanh hiện nay cũng tiêu thụ mạnh. Ông Ngô Hoàng Vũ, một thương lái cho biết mỗi ngày ông thu mua trên 1 tấn đu đủ xanh và chín để chuyển cho các vựa đóng hàng đi TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội.

nongdan24g.com-THÀNH HIỆP/NNVN
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , , | Để lại phản hồi

Kỹ thuật bón phân cho cây na trên đất dốc Lạng Sơn

Na là một loại cây có tính thích ứng rộng, chịu được mùa khô khắc nghiệt. Quả na có độ ngọt cao, lại có hương thơm nên được nhiều người ưa thích.

Phân Văn Điển không tan trong nước nên không bị rửa trôi, đặc biệt phù hợp cho vùng cao, đất dốc
Việt Nam hiện có 2 loại: Na dai và na bở. Na dai chống úng kém nhưng chống hạn tốt. Na dai chịu rét tương đối tốt, mùa đông ngừng sinh trưởng, rụng hết lá, mùa xuân ấm áp trở lại vào tháng 4 – 5 lại ra đợt lá mới và ra hoa. Nhờ đó, na dai trồng được trên nhiều vùng khí hậu, cả vùng đất cao hạn gặp mùa khô khắc nghiệt của các tỉnh phía Bắc như Thái Nguyên, Cao Bằng, Quảng Ninh, Lạng Sơn…

Tại huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn), các nương, đồi na chạy dài theo sườn đồi và thung lũng chân các dãy núi đá vôi. Vùng núi đá Cai Kinh và Tam Yên (Yên Sơn, Yên Thịnh, Yên Vượng) là những vùng na dai nổi tiếng của huyện Hữu Lũng, mỗi xã có vài trăm ha chạy theo sườn và chân núi đá.

Ở vùng này, các dải đất và đá xen kẽ, đá nổi nhiều, tầng đất không dày và kết cấu rời rạc, độ dốc lớn nên hiện tượng rửa trôi diễn ra rất khốc liệt. Tuy chịu được đất xấu nhưng cây na chỉ phát huy được ưu điểm trên đất không chua, nhiều màu. Nếu thiếu phân bón chóng già cỗi, nhiều hạt, ít thịt (cơm). Do vậy, phải chăm sóc cây từ khi mới trồng và cung cấp đầy đủ, cân đối các chất dinh dưỡng để cây khoẻ, nhiều nhựa, sức sống tốt mới cho nhiều quả, ngon.

Đất đồi ở Hữu Lũng hầu hết kết cấu rời rạc, giữ dinh dưỡng kém. Khi sử dụng các loại phân đơn, phân NPK thông thường rất dễ bị rửa trôi, mặt khác các loại phân trên chỉ cung cấp được 1 – 3 thành phần NPK, còn thiếu hầu hết các chất dinh dưỡng trung, vi lượng mà những chất này cực kỳ cần thiết cho cây na.

Phân bón được vùi vào đất sẽ không bị rửa trôi và cây na ăn dần trong suốt vụ. Vườn na trên 5 tuổi nên tăng lượng phân bón cho vườn để có năng suất thu hoạch cao.
Phân lân nung chảy Văn Điển được sản xuất bằng cách nấu chảy hỗn hợp quặng phosphat với serpentin hoặc olevin, manhezit ở nhiệt độ 1.400 – 1.450 độ C, sau đó làm lạnh đột ngột nên sản phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng. Trong đó, P2O5 15 – 19%, MgO 15 – 18% ,SiO2 24 – 32%, CaO 28 – 34%, và đầy đủ các chất vi lượng như: Chất sắt: 4%, Chất Mangan: 0,4%; chất đồng: 0,02%; Chất molipden: 0,001%; Chất Coban: 0,002; Chất Bo: 0,008%; Chất Kẽm: 0,00014%.

Phân Văn Điển không tan trong nước nên không bị rửa trôi, đặc biệt phù hợp cho vùng cao, đất dốc; chỉ tan trong môi trường a xít yếu do rễ cây tiết ra nên khi cây ăn hết phân, cây chưa ăn đến còn tồn lại các vụ sau.

Phân bón đa yếu tố NPK Văn Điển loại NPK 5:10:3 dạng viên có đầy đủ các chất dinh dưỡng: N 5%. P2O5 10%, K2O 3%, Mg 9%, SiO2 14%, CaO 15%,và các chất vi lượng: Zn, Cu, Mn, B, Mo…

Loại NPK 12:5:10 có hàm lượng: N12%, P2O5 5%, K2O 10%, Mg2%, SiO2 4%, CaO 5%… giúp cây na phát triển khỏe và bền, ít sâu bệnh hại, nhiều quả, quả to đều, chất lượng thơm, ngon.

Cách dùng phân bón Đa yếu tố NPKVăn Điển cho cây na (lượng bón kg NPK/cây):

       Loại phân
Tuổi cây
Bón đợt I
NPK (5:10:3)
Bón đợt 2
NPK (12:5:10)
Bón đợt 3
NPK (12:5:10)
KTCB(1-3 tuổi) 0,5 – 2,0 0,3 – 0,5 0,3 – 0,5
3-5 tuổi 2,5 – 3,0 1,5 – 3,0 1,5 – 3,5
Trên 5 tuổi Trên 3,5 Trên 3 Trên 4

Cách bón :

– Tạo rãnh: Ghé lưỡi cuốc tạo rãnh xung quanh mép tán, độ sâu 3 – 5cm, rắc phân NPK xong lấp đất, ủ rác phủ quanh tán giữ ẩm cho đất, tạo điều kiện cho rễ phát triển.

– Các đợt bón:

+ Bón đợt I: Tháng 9 -1 0 sau khi thu hái quả; có thể bón đến tháng 1 trước khi đốn tỉa cành, tuốt lá. Nếu có phân hữu cơ ủ mục bón cùng ĐYT NPK 5:10:3 rất tốt. Trên sườn dôc hoặc khe đá nên sử dụng lân nung chảy Văn Điển và tạo mọi điều kiện để vùi phân và lấp đất kín.

+ Bón đợt II: Tháng 2 – 4 bón đón lộc, đón hoa.

+ Bón đợt III: Tháng 6 – 7 bón nuôi cành, nuôi quả.

Các đợt 2,3 sử dụng phân đa yếu tố NPK 12:5:10, bón theo tán cây. Nếu trời khô hạn có thể ngâm nước khoảng 15 – 20 phút cho phân tan rồi hòa tưới.

nongdan24g.com-TIẾN CHINH – LÊ THU/NNVN
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , | Để lại phản hồi

Về Hoà Lộc tìm nguồn gốc “vua” của các loại xoài

Là giống xoài nổi tiếng ngon của Nam Bộ, xoài cát Hòa Lộc được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng bởi màu sắc hấp dẫn, mùi vị thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Xoài cát Hòa Lộc có dạng trái thon dài, tròn mình, eo rốn trái rõ, đỉnh trái nhọn, bầu tròn gần cuống.
Xoài cát Hòa Lộc

Khi chín, trái màu vàng tươi, vỏ mỏng, phủ lớp phấn trắng mịn, có đốm nhỏ, màu nâu đen, đốm dạng tròn; thịt trái màu vàng tươi, dày, độ chắc thịt cao, mịn, dẻo, ít nước, ít xơ.

Trái có vị rất ngọt, mùi thơm dịu đặc trưng. Nguồn gốc của xoài cát Hòa Lộc được trồng tại làng Hòa Lộc, nay là ấp Hòa thuộc xã Hòa Hưng.

Đây là vùng đất ven sông Tiền nên tích tụ nhiều phù sa rất thích hợp cho xoài sinh trưởng và phát triển. Ngoài ra, một số vùng khác cũng có thổ nhưỡng phù hợp để duy trì loại xoài này là xã Hòa Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Tân Hưng, Tân Thanh…

Theo Ths. Nguyễn Việt Hoa, Chủ tịch Hội Làm vườn huyện Cái Bè: Xoài cát Hòa Lộc được trồng lâu đời nhất ở huyện Cái Bè.

Giống xoài này bắt đầu nổi tiếng từ những năm 1939 – 1940 sau khi đoạt giải cao trong các cuộc đấu xảo, giống xoài cát này đã trở thành đặc sản quý, được dâng lên tế lễ nơi đình thần, mà di tích ngày nay là Đình thần Hòa Lộc.

Xoài cát Hòa Lộc đã được Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cấp văn bằng bảo hộ Chỉ dẫn địa lý vào ngày 30-9-2009 với tên “Chỉ dẫn địa lý xoài cát Hòa Lộc”.

Theo đó, chỉ có xoài trồng tại địa danh này mới được mang tên xoài cát Hòa Lộc. Những năm gần đây loại  trái cây này đã đem lại giá trị kinh tế cao cho nông dân xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè nói riêng và Tiền Giang nói chung.

Nhờ chất lượng ngon, hương vị đậm đà nên hiện nay giống xoài cát Hòa Lộc đang được trồng với quy mô công nghiệp.

Hiện loại trái cây đặc sản này đã mang lại nguồn thu lớn cho nông dân ở xã Hòa Hưng. Với giá trung bình từ 20.000 – 70.000 đồng/kg tùy thời điểm, mỗi ha cho giá trị từ 200 – 400 triệu đồng và là cây trồng có hiệu quả kinh tế nhất hiện nay tại xã.

Anh Huỳnh Văn Sang ở ấp Hòa có 5 công đất trồng xoài cát Hòa Lộc, mỗi năm cho thu hoạch khoảng 6 tấn xoài thương phẩm, bán được 150 triệu đồng. Mới đây, nhờ xoài cát Hòa Lộc mà anh đã xây ngôi nhà mới trị giá 500 triệu đồng.

Hay hộ anh Trần Văn Nở ở ấp Bình trồng 108 gốc xoài cát Hòa Lộc, mỗi năm gia đình anh thu nhập hơn 100 triệu đồng.

Theo số liệu thống kê của UBND xã Hòa Hưng, hiện xã có khoảng 600 ha trồng xoài cát Hòa Lộc. Năm 2012 được Dự án xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm do Cơ quan Phát triển quốc tế Canada (CIDA) tài trợ, Hợp tác xã Xoài cát Hòa Lộc đã tham gia mô hình sản xuất xoài cát Hòa Lộc được công nhận là mô hình trồng xoài cát Hòa Lộc theo tiêu chuẩn VietGAP.

Năm 2012 được chứng nhận theo tiêu chuẩn VietGAP 11,1 ha/19 hộ; năm 2013 được tái chứng nhận và mở rộng lên 20,73 ha/34 hộ; năm 2014 chứng nhận cho 20,1 ha/ 33 hộ đạt tiêu chuẩn GlobalGAP (thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu).

Được biết, xoài cát Hòa Lộc là 1 trong 7 loại trái cây chủ lực được tỉnh đầu tư phát triển. Mới đây, Đề án Tái cơ cấu nền nông nghiệp của tỉnh cũng chọn trái xoài làm bước đột phá cho các loại cây trái còn lại.

Đến nay, tỉnh đã xây dựng được vùng chuyên canh 1.600 ha, tập trung tại các xã giáp sông Tiền của huyện Cái Bè, gồm: Hòa Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Tân Thanh, Tân Hưng, Mỹ Lương, An Thái Đông, Mỹ Đức Tây, Mỹ Đức Đông, Thiện Trí, Hòa Khánh…

Thương hiệu xoài cát Hòa Lộc hiện nay không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn đang vươn ra thế giới, xuất khẩu sang một số thị trường khó tính nhất.

Đặc biệt, sản phẩm này đã được xuất khẩu sang các thị trường đầy tiềm năng như: Pháp, Mỹ, Canada, Australia, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc… Nhờ vậy, thu nhập của nông dân trồng xoài cát Hòa Lộc không ngừng được nâng cao.

Nongdan-Báo Ấp Bắc
Đăng tải tại Giao thương | Thẻ , , , , , , | Để lại phản hồi

Thịt gia cầm nhập khẩu đang “giết” người chăn nuôi trong nước

Đó là các kiến nghị đáng chú ý tại hội thảo “Tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm và các giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm bền vững”, do Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ NNPTNT) phối hợp Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam tổ chức ngày 4.4, tại Bắc Giang.

Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp

TS Hoàng Thanh Vân – Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NNPTNT) cho biết, trong những năm qua ngành chăn nuôi gia cầm có sự phát triển rất khá, đáng chú ý là năm 2016 có sự tăng trưởng cao nhất trong 10 năm gần đây với trên 6% về sản lượng thịt và trên 7% về sản lượng trứng. “Năm 2016 Việt Nam có sản lượng thịt gia cầm sản xuất đạt khoảng 1,7-1,8 triệu tấn và trở thành một trong 10 nước sản xuất thịt gia cầm lớn nhất thế giới. Song chúng ta chủ yếu chỉ tiêu thụ lượng thịt đó trong nước, kèm theo các sản phẩm nhập khẩu khá lớn đã làm cho cung vượt cầu dẫn đến giá sản phẩm cuối năm 2016 gần như xuống đáy, khiến người chăn nuôi thua lỗ nặng nề” – ông Vân chia sẻ.

Chăn nuôi gà ở xã Thanh Vân (Tam Dương (Vĩnh Phúc). Ảnh: T.Q
Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để người chăn nuôi từng bước chuyển dần từ chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, thuy quy hoạch, sản xuất hàng hóa và có kiểm soát. Đồng thời hướng dẫn người dân chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và theo hướng VietGAP”.

TS Hạ Thúy Hạnh

 

Đứng trước tình hình đó, ông Vân cho rằng, cần phải rà soát, cơ cấu lại sự phát triển của ngành  chăn nuôi gia cầm. “Đầu tiên chúng ta phải xem xét lại quy hoạch không gian, đặc biệt các địa phương nào ở vùng ven đô, đông dân cư thì không nên khuyến khích phát triển gia cầm. Đồng thời chúng ta phải cơ cấu lại con giống, quan điểm của tôi chỉ nên nuôi gà công nghiệp lông trắng duy trì ở mức 28 – 30%. Chúng ta nên chú trọng vào gà lông màu, đặc biệt là gà lông màu đẻ trứng với tỷ lệ thích hợp” – ông Vân nói.

Ông Vân cho hay: “Đã đến lúc chúng ta phải khơi thông lại thị trường xuất khẩu, và nhà nước phải có chiến lược một cách bài bản để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ và hướng tới từng thị trường một, đặc biệt là các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU… Với cách làm như thế thì chúng ta mới tránh được với sự phát triển quá nóng đàn gia cầm dẫn đến không tiêu thụ được và sẽ giúp cân đối được cung – cầu  trong nước cũng như ngoài nước”.

Cũng theo ông Vân, để giúp nông dân chăn nuôi gia cầm bền vững, nhà nước cần phải tăng cường kiểm soát thịt nhập khẩu từ các nước, nhất là về chất lượng thịt gia cầm. Đặc biệt phải chặn đứng được việc nhập lậu sản phẩm gia cầm không rõ nguồn gốc qua biên giới. Đồng thời chúng ta phải tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, khuyến cáo cho người dân sử dụng các sản phẩm có chất lượng để đảm bảo sức khỏe.

Không chủ quan với dịch bệnh

TS Hạ Thúy Hạnh – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia cho biết, trong 6 năm (2011 – 2016), trung tâm đã triển khai và quản lý 6 dự án khuyến nông trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm với quy mô trên 1 triệu con, với 9.739 hộ tham gia. Các dự án đã triển khai tập huấn kỹ thuật cho hơn 8.000 lượt người trong và ngoài mô hình, đồng thời tổ chức cho 6.470 tham gia nhân rộng mô hình.

Đề xuất giải pháp để phát triển chăn nuôi bền vững, bà Hạnh cho rằng: “Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để người chăn nuôi từng bước chuyển dần từ chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, thuy quy hoạch, sản xuất hàng hóa và có kiểm soát. Đồng thời hướng dẫn người dân chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và theo hướng VietGAP. Bên cạnh đó, các địa phương cần có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào giết mổ, chế biến và bao tiêu sản phẩm gia cầm thì người chăn nuôi mới có thể yên tâm sản xuất, nâng cao  thu nhập”.

 

Ông Ken Inui – chuyên gia quốc tế thuộc Tổ chức Nông – lương Liên Hợp Quốc (FAO) cho rằng: “Do tiếp giáp với Trung Quốc, Việt Nam là khu vực hết sức nhạy cảm với dịch cúm gia cầm và cần sự quan tâm đặc biệt từ các tổ chức trong nước và quốc tế trong việc kiểm soát và ngăn chặn sự bùng phát của dịch. Tuy nhiên, trong năm 2017, chỉ một vài khu vực tại Việt Nam xuất hiện dịch cúm gia cầm và với số lượng gia cầm bị lây nhiễm không đáng kể, hơn nữa cúm A/H7N9 được xác định chưa xuất hiện tại Việt Nam. Qua đó minh chứng rằng Việt Nam là quốc gia thành công trong công tác kiểm soát và ngăn chặn dịch cúm gia cầm.

Ông Hoàng Thanh Vân cho biết, năm nay tình hình dịch cúm xảy ra ở Việt Nam không nhiều, đến thời điểm này cả nước chỉ ghi nhận có 14 điểm cúm. “Tuy nhiên trong chăn nuôi gia cầm, bà con phải xác định không được chủ quan với dịch cúm, bà con phải chủ động tiêm phòng đầy đủ vaccine phòng trừ các bệnh dịch nguy hiểm theo quy định. Về phía các địa phương phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát điều kiện vệ sinh thú ý tại các cơ sở chăn nuôi đồng thời tổ chức kiểm dịch các sản phẩm trước lúc xuất chuồng…” – ông Vân nhấn mạnh.

Theo số liệu thống kê của Sở NNPTNT Bắc Giang, năm 2016 đàn gia cầm toàn tỉnh có khoảng trên 17 triệu con, trong đó, đàn gà là gần 15 triệu con, thủy cầm trên 2 triệu con. Ông Dương Thanh Tùng – Phó Giám đốc Sở NNPTNT cho biết, hiện tại tỉnh, mô hình chăn nuôi trang trại đang phát triển nhanh, toàn tỉnh có 270 trang trại chăn nuôi gia cầm, tỷ lệ trang trại, gia trại an toàn sinh học chiếm 30% tổng đàn.

Ông Tùng cho biết, tỉnh luôn đặc biệt chú trọng làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh. Nhờ thế mà trong nhiều năm trên địa bàn tỉnh không để xảy ra dịch cúm gia cầm, giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi.

Nongdan24g.com-Danviet
Đăng tải tại Giao thương | Thẻ , , , , , , , , | Để lại phản hồi

Huyện Lục Yên (Yên Bái): Thu nhập cao từ nuôi gà thả vườn

Với đặc điểm dễ nuôi, không mất nhiều chi phí đầu tư, ít tốn công chăm sóc…, mô hình nuôi gà thả vườn đang được nhiều hộ dân ở xã Mai Sơn- huyện Lục Yên thực hiện, mang lại hiệu quả cao, giúp cải thiện kinh tế gia đình.
Mô hình chăn nuôi gà giúp nhiều hộ nông dân xã Mai Sơn làm giàu

Là một trong những người đầu tiên trong xã Mai Sơn áp dụng chăn nuôi giống gà ta thả vườn, các bước trong quá trình chăn nuôi được chị Đinh Thị Thắng ở thôn Sơn Trung đặc biệt chú trọng, tận dụng vườn tược rộng rãi. Gia đình chị đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi kiên cố, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, hạn chế tối đa dịch bệnh bên ngoài.  Hiện tổng đàn gà của gia đình chị có trên 1 nghìn con, mỗi năm, gia đình chị xuất bán ra thị trường gần 3 nghìn con, trung bình mỗi con nặng từ 1,9- 2,8 kg, tương đương với hơn 3 tấn gà thịt. Với mức giá ổn định 65- 70.000 đồng/kg, gia đình chị thu về trên 100 triệu đồng, thương lái thu mua sản phẩm của gia đình chị chủ yếu là người dân trong huyện hoặc các địa phương lân cận như tỉnh Hà Giang, Lào Cai, thành phố Yên Bái… Chị Thắng chia sẻ: “Được tham gia các buổi tham quan, học tập chăn nuôi ở nhiều nơi, gia đình tôi mạnh dạn vay vốn phát triển chăn nuôi gà thả vườn, qua nhiều năm tôi thấy rất phù hợp với điều kiện, giúp gia đình vươn lên thoát nghèo”.

Không riêng chị Thắng, nhiều hộ gia đình trong xã Mai Sơn cũng chọn phát triển mô hình này. Từ năm 2010, anh Tống Văn Sửu- thôn Sơn Thượng bắt đầu phát triển chăn nuôi gà thương phẩm. Anh Sửu nhận định, vấn đề con giống là yếu tố quyết định nên những đợt nuôi gần đây, gia đình anh thường chọn gà giống đảm bảo nguồn gốc rõ ràng. Theo anh, mô hình nuôi gà thả vườn không khó, quan trọng là phải thường xuyên kiểm tra, tiêm ngừa đầy đủ cho gà để phòng, chống một số bệnh như: Thương hàn, dịch tả, tụ huyết trùng, đặc biệt dịch cúm H5N1, vườn thả gà cần được khoanh lưới để đảm bảo gà không tiếp xúc với mầm bệnh bên ngoài. Sau mỗi đợt xuất chuồng, phải tiến hành vệ sinh vườn và rải vôi bột khử trùng, để vườn trống khoảng 1 tháng mới thì bắt đầu thả gà cho vụ nuôi kế tiếp.

Qua hạch toán, trung bình mỗi năm gia đình anh nuôi 4 lứa quy mô 500 con, bán 4 tấn gà/năm, trừ chi phí anh thu lãi khoảng 60- 70 triệu đồng. Anh Sửu cho biết thêm: “Trước đây gia đình tôi chỉ nuôi nhỏ lẻ, được cán bộ xã tuyên truyền vận động gia đình đã mạnh dạn mở rộng quy mô đàn gà nên hiệu quả đem lại cao, giúp gia đình ổn định đời sống”.

Hiện nay, trên địa bàn xã đã có khoảng hơn 200 hộ gia đình đầu tư nuôi gà thả vườn có quy mô từ 100 con trở lên, trong đó có 6 hộ thực hiện quy mô nuôi 1 nghìn con, tập trung nhiều ở các thôn: Sơn Tây, Sơn Thượng, Sơn Bắc. Tổng đàn gà toàn xã có khoảng 50 nghìn con các loại, mỗi năm cho bán hàng trăm tấn gà thương phẩm ra thị trường.

Từ mô hình nuôi gà thả vườn đã có nhiều hộ đã vươn lên làm giàu, thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm, qua đó đã góp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn… Ông Âu Văn Tình- Phó Chủ tịch UBND xã Mai Sơn cho biết: “Có thể nói, chăn nuôi gà trên địa bàn xã Mai Sơn những năm qua đã có những bước phát triển mạnh cả về quy mô, số lượng, các hộ dân đã vươn lên thoát nghèo, nhiều hộ còn làm giàu và xây dựng được mô hình vững chắc”.

Việc phát triển mô hình chăn nuôi gà thả vườn ở xã Mai Sơn đã góp phần tích cực vào việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi, tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao. Qua đó, giúp cho người nông dân đổi mới suy nghĩ, cách làm, xây dựng thêm nhiều mô hình hiệu quả, sáng tạo trong vận dụng những tiến bộ mới vào sản xuất, thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn một cách bền vững, nâng cao thu nhập và mức sống của người dân.

nongdan24g.com-Khắc Điệp (Đài TT-TH Lục Yên-Yên Bái)
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , , , | Để lại phản hồi

Gom phân lợn thành… tỷ phú

Bỏ công việc thu nhập cao tại thành phố, anh Trịnh Đắc Thắng (thôn 4, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, TP.Hải Phòng) đã quyết định trở về quê hương và trở thành “tỷ phú phân bón” nhờ vào … phân lợn. Lựa chọn của anh còn giúp môi trường ở đây sạch sẽ hơn.
Ngoài phân lợn, phân chim bồ câu cũng được anh Thắng gom lại để sản xuất phân bón.

Vừa làm giàu, vừa làm sạch quê hương 

Tận dụng nguồn nguyên liệu có sẵn từ các nguồn thải nông nghiệp như phân lợn, gà, rơm rạ… để chế biến thành phân bón hữu cơ vi sinh sạch phục vụ cho trồng trọt, anh Thắng đã góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra.

Năm 2012, trong một lần làm việc cho một đơn vị chuyên sản xuất phân bón hữu cơ, anh Thắng biết được những nguồn thải nông nghiệp đều có thể chế biến thành phân bón hữu cơ, một loại phân bón sạch và tốt cho cây trồng. Khi đó, anh Thắng đã nghĩ ngay đến trang trại lợn hàng nghìn con tại địa phương mình, hàng ngày chất thải từ trang trại thải ra môi trường rất nhiều, bốc mùi khó chịu, ảnh hưởng đến đời sống của bà con nhân dân. Sau nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ, anh Thắng đã quyết định thử nghiệm mô hình sản xuất này.

“Khi mới nhen nhóm ý tưởng này, tôi đã suy nghĩ rất nhiều vì vốn chưa có, kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất vẫn là con số không. Nhưng cứ nghĩ đến việc sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh này giúp giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường tôi lại càng quyết tâm hơn. Giờ nghĩ lại, nếu hồi đấy tôi không liều thì chắc sẽ không có thành quả như hôm nay”, anh Thắng chia sẻ. Cũng theo anh Thắng, sản phẩm làm từ phân hữu cơ này phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau, đặc biệt phù hợp với cây thuốc lào, một loại cây mà tại địa phương đang trồng rất nhiều.

Nói là làm, anh Thắng đã lặn lội đi học hỏi kinh nghiệm xây dựng mô hình kinh tế này tại Thanh Hóa, Phú Thọ. Sau khi đã nắm vững được quy trình sản xuất, anh đã vay mượn bạn bè, họ hàng đầu tư hơn 1 tỷ đồng tiền vốn để mua máy móc và trang thiết bị phục vụ cho sản xuất.

Anh Thắng cho biết: “Công nghệ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh có quy trình và thiết bị đơn giản. Nguyên liệu sản xuất phân cũng rất dễ tìm, chủ yếu là nguồn phụ phẩm nông nghiệp như phân chuồng sẵn có từ các trang trại lợn, rác thải hữu cơ, bã trồng nấm rơm, bùn thải từ ao nuôi tôm cá chung quanh khu vực. Ngoài ra, tôi còn tận thu bã thuốc lá từ Nhà máy thuốc lá Hải Phòng làm nguyên liệu sản xuất phân bón vì bã thuốc lá có tác dụng khử trùng chữa nấm”.

Sản xuất không lo đầu ra

Gần 5 năm gắn bó với nghề đi “thu gom phân lợn”, giờ đây anh Thắng đã làm chủ sản nghiệp trị giá hàng tỷ đồng. Ngoài ra, anh còn mở rộng mô hình với 2 ao rộng 7.200m2 nuôi thả cá chép cảnh, chép vàng; nuôi chim bồ câu và đặc biệt trồng cây dược liệu như cà gai, đinh lăng… cung cấp cho phòng khám đông y trong huyện.

 

Vốn có lợi thế về nghề máy xúc nên việc sản xuất phân bón hữu cơ lại càng thuận tiện hơn. Theo anh Thắng, để sản xuất cần phải dùng máy xúc đào những hố sâu khoảng 1m, sau đó bơm phân lợn kết hợp men vi sinh đảo ủ với vôi, rơm, lông vũ, nấm rơm… Khi các hỗn hợp đã được trộn, tiếp tục dùng máy xúc đánh đống, ủ bạt chờ lên men. Hỗn hợp sau khi lên men sẽ được đem phơi khô rồi đưa vào nhà xưởng nghiền, phối trộn với các phụ gia và đóng gói.

Được biết, quy trình sản xuất phụ thuộc vào thời tiết, nếu thời tiết thuận lợi thì sau nửa tháng sẽ có sản phẩm. Sản phẩm sau khi đóng bao sẽ được bán ra thị trường với giá 2.800 đồng/kg. Hiện nay, mỗi năm xưởng sản xuất của anh Thắng sản xuất được gần 700 tấn phân hữu cơ vi sinh, với thu nhập hơn 1 tỷ đồng mỗi năm, hàng làm ra đến đâu, tiêu thụ hết đến đó. Bên cạnh việc cung cấp nguồn phân bón tại chỗ phục vụ hoạt động trồng trọt tại địa phương, anh Thắng còn cung cấp phân bón cho các công ty rau sạch ở Hải Phòng và các tỉnh trồng cây chất lượng cao như na Đông Triều (Quảng Ninh), chuối Hà Giang…

Gần 5 năm gắn bó với nghề đi “thu gom phân lợn”, giờ đây anh Thắng đã làm chủ sản nghiệp trị giá hàng tỷ đồng. Ngoài ra, anh còn mở rộng mô hình với 2 ao rộng 7.200m2 nuôi thả cá chép cảnh, chép vàng; nuôi chim bồ câu và đặc biệt trồng cây dược liệu như cà gai, đinh lăng… cung cấp cho phòng khám đông y. Chia sẻ về dự định trong thời gian tới, anh Thắng cho biết: “Thời gian tới, ngoài việc tiếp tục nhân rộng mô hình sản xuất phân hữu cơ vi sinh, tôi còn tập trung sản xuất thêm giá thể cho khay gieo mạ, phục vụ cho việc trồng trọt tại địa phương”.

nongdan24g.com-danviet
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , | Để lại phản hồi

Củ Chi: Thu nhập tiền tỷ mỗi năm từ nuôi trùn quế

Hộ gia đình bà Võ Thu Hoa ở ấp Tân Định, xã Tân Thông Hội, Củ Chi (TP.HCM) là một điển hình làm giàu từ mô hình nuôi trùn quế, mỗi năm thu nhập hàng tỷ đồng…
Bà Hoa giới thiệu sản phẩm phân bón từ trùn quế

 

Bà Hoa chia sẻ, gia đình bà nuôi trùn quế đã 18 năm. Ban đầu nuôi bò dư nhiều phân chuồng nên nuôi trùn quế cho gà, vịt ăn. Sau này con trai bà mở rộng diện tích nuôi trên 1.500m2 và tìm đầu ra cho trùn quế.

“Nuôi trùn quế rất dễ, chuồng nuôi làm bằng bạt hoặc đổ bê tông. Thức ăn cho trùn quế chủ yếu là phân, nhưng phải cho ăn đúng cách. Muốn trùn quế khỏe thì cho ăn phân bò, các thức ăn từ động vật khác như heo, gà, vịt phải ủ thật kỹ. Hai ngày cho ăn một lần”, bà Hoa chia sẻ.

Thực tế mô hình của nhà bà Hoa cho thấy, trùn quế ít bị bệnh mà cho thu hoạch rất nhanh, mỗi tháng một lần. Với diện tích 1.500m2 mỗi lần bà thu hoạch khoảng hơn 1 tấn trùn quế. Mức giá hiện tại 4.000 đ/kg, có lúc lên 6.000 – 7.000 đ/kg thì mỗi tháng cũng thu được hơn 40 triệu đồng. Ngoài ra, sau khi thu hoạch khoảng 4 tháng, bà còn có 70 tấn phân trùn quế với giá bán phân ướt 2.500 đ/kg cho thu thêm 170 triệu đồng.

Bà Hoa cũng cho biết, sau nhiều năm nuôi trùn quế, gia đình bà tìm tòi thử nghiệm và tạo ra phân bón trùn quế cho cây trồng và dùng trùn quế làm thức ăn cho thủy sản, gia cầm. Chất dinh dưỡng từ dịch trùn quế được các trung tâm nghiên cứu cây trồng, vật nuôi đánh giá cao. Nhờ học hỏi kỹ thuật cũng như kinh nghiệm nuôi trùn quế lâu năm, trang trại của bà còn đáp ứng nhu cầu con giống cho các hộ chăn nuôi trong khu vực, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc trùn quế cho người mua rất tận tình.

Nongdan24g.com-NNVN
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , | Để lại phản hồi