Nuôi thỏ bán cho Nhật Bản, dân nhanh giàu

Nhiều hộ nông dân muốn nuôi nhiều thỏ bán cho Nhật Bản để nhanh giàu. Nhưng không phải ai cũng đủ vốn liếng để đầu tư, mở rộng. Với mức cho vay Quỹ Hỗ trợ nông dân (HTND) “khủng” lên đến 100 triệu đồng/hộ, nông dân nuôi thỏ ở xã Phú Hòa, huyện Lương Tài (Bắc Ninh) đã đầu tư, mở rộng quy mô, liên kết tạo thành vùng sản xuất hàng hóa lớn, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu đi Nhật.
Được vay vốn Quỹ HTND mức tối đa 100 triệu đồng/hộ, nhiều hộ nuôi thỏ ở xã Phú Hòa đã có điều kiện mở rộng quy mô, tăng thu nhập.

Nuôi thỏ bán đi Nhật

Gia đình chị Nguyễn Thị Hường ở thôn Phú 1 có quy mô nuôi thỏ lớn nhất xã. Chị Hường cho biết: “Năm 2015, tôi bắt đầu nghề nuôi thỏ với 20 con thỏ sinh sản. Sau một thời gian, tôi thấy nuôi thỏ vừa đơn giản lại cho hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, vốn đầu tư nuôi thỏ không hề nhỏ mà tôi lại thiếu vốn. Rất may, đầu năm 2017, tôi được Quỹ HTND tỉnh Bắc Ninh cho vay 100 triệu đồng nuôi thỏ”.

Nhờ liên kết, tạo thành vùng sản xuất thỏ tập trung, HTX đã ký kết hợp đồng bao tiêu với Công ty Dược phẩm Nippon Zonki Nhật Bản với giá bán ra 178.000 đồng/con thỏ, mỗi con có trọng lượng từ 2,3 – 2,5 kg. Nhờ nuôi thỏ xuất đi Nhật, trừ hết mọi chi phí, gia đình tôi lãi hơn 20 triệu đồng/tháng”. 

Hộ vay Nguyễn Thị Lâm 

Cùng với vốn của nhà, gia đình chị Hường đã đầu tư 2 khu nuôi thỏ sinh sản và thương phẩm. “Với diện tích 100m2 khu nuôi thỏ sinh sản và 150m2 khu nuôi thỏ thương phẩm (thỏ thịt), gia đình tôi đã đầu tư khoảng 500 triệu đồng. Đến nay, đàn thỏ phát triển lên 100 con thỏ sinh sản và hơn 1.000 thỏ thương phẩm. Đây là 1 trong những cách chăn nuôi làm giàu, cách làm giàu từ chăn nuôi”.

Cách nhà chị Hường không xa, gia đình chị Nguyễn Thị Lâm cũng được Quỹ HTND cho vay 100 triệu đồng. Hiện chị Lâm cũng nuôi hơn 100 thỏ sinh sản và 1.000 thỏ thương phẩm. Chị Lâm phấn khởi nói: “Thông qua nguồn vốn Quỹ HTND, hoạt động của các thành viên trong HTX nuôi thỏ Việt – Nhật xã Phú Hòa cũng sôi nổi và thiết thực hơn. Quỹ HTND đã gắn kết các thành viên, giúp nhau cùng chia sẻ, trao đổi kỹ thuật, kinh nghiệm và thông tin thị trường. Nhờ biết liên kết, tạo thành vùng nuôi thỏ tập trung, HTX đã ký kết hợp đồng bao tiêu với Công ty Dược phẩm Nippon Zonki Nhật Bản với giá bán thỏ là 178.000 đồng/con. Nhờ nuôi thỏ xuất đi Nhật, trừ hết mọi chi phí, gia đình tôi lãi hơn 20 triệu đồng/tháng. Đây là mô hình làm giàu từ nông nghiệp…Trước kia, bà con cứ loay hoay với câu hỏi, nuôi con gì để làm giàu, trồng cây gì để làm giàu…”.

Hỗ trợ tối đa cho nông dân

Theo các hộ nuôi thỏ xã Phú Hòa, để thỏ đảm bảo tiêu chuẩn đi Nhật, phía công ty hướng dẫn và kiểm soát HTX chặt chẽ. Những con thỏ đảm bảo về hình dáng, trọng lượng và đặc biệt là sạch bệnh, sạch dư tồn hoóc môn tăng trưởng.

 nuoi tho ban cho nhat ban, dan nhanh giau hinh anh 2

Nuôi thỏ bán cho Nhật Bản, dân nhanh giàu hình ảnh 2

Được vay vốn Quỹ HTND mức tối đa 100 triệu đồng/hộ, nhiều hộ nuôi thỏ ở xã Phú Hòa đã có điều kiện mở rộng quy mô, tăng thu nhập.  Ảnh: Thu Hà

Ông Nguyễn Đăng Hệ – Chủ tịch Hội ND huyện Lương Tài cho biết, từ đầu năm 2017 đến nay, Hội ND huyện Lương Tài phối hợp Ban Điều hành Quỹ HTND tỉnh Bắc Ninh thực hiện giải ngân 2 dự án với hạn mức cho vay hộ cao nhất là 100 triệu đồng/hộ. Cụ thể, với 500 triệu đồng nguồn vốn Quỹ HTND tỉnh đã đầu tư cho 5 hộ ở xã Phú Hòa nuôi thỏ và 1 tỷ đồng khác đầu tư cho 10 hộ trồng cà rốt ở xã Minh Tân.

“Đây là những dự án phát triển sản xuất đầu tiên theo mô hình chuỗi giá trị, hướng tới xây dựng vùng sản xuất tập trung gắn với tiêu thụ sản phẩm. Với hạn mức vay Quỹ HTND mới tối đa mà Ban Thường vụ T.Ư Hội NDVN phê duyệt là 100 triệu đồng/hộ, các hộ nông dân đã có điều kiện đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, đặc biệt là biết cách liên kết, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị hàng hóa, sản phẩm nông nghiệp làm ra có chất lượng cao” – ông Hệ khẳng định.

Nongdan24g.com-danviet
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , , , , | Để lại phản hồi

Nghề lạ: Sản xuất cua tí hon, mỗi tháng bỏ túi 15-20 triệu đồng

Tận dụng đất trống và lợi thế kinh nghiệm trong nuôi cua biển, nhiều nông dân ở ấp Cái Trăng (xã Hàm Rồng, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau) đã phát triển nghề ươm, gièo cua giống, mang lại thu nhập ổn định.
Sản xuất cua giống giúp gia đình anh Tuyên có lợi nhuận từ 15-20 triệu đồng/tháng

Đến nay, thương hiệu cua giống Cái Trăng được bạn hàng khắp nơi tin tưởng. Nhìn những con cua giống “tí hon” ít ai nghĩ rằng đây là vật nuôi đem lại nguồn thu nhập cao cho nhiều nông dân tại ấp Cái Trăng.

Ươm, gièo cua giống tại địa phương ban đầu chỉ có một vài hộ làm, về sau xét thấy mô hình có hiệu quả nên nông dân học hỏi lẫn nhau cùng thực hiện. Dần dần, Hội Nông dân xã vận động bà con nông dân vào tổ hợp tác để được cơ quan chức năng hỗ trợ đưa khoa học – kỹ thuật và vốn phát triển kinh tế tập thể.
Tháng 7.2012, tổ hợp tác ươm, gièo cua giống ấp Cái Trăng hình thành với 16 thành viên. Về sau, qua quá trình xây dựng và phát triển tổ nâng lên 49 thành viên và chia làm 3 tổ nhỏ để dễ quản lý.
Theo nhiều tổ viên, đây là mô hình có hiệu quả và triển vọng, tập hợp được lao động nhàn rỗi, tận dụng những khu đất trống xung quanh nhà vốn không có giá trị kinh tế để tăng thu nhập.
Ông Đoàn Văn Tuyên – Tổ trưởng tổ hợp tác ươm, gièo cua giống Cái Trăng, cũng là người tiên phong thực hiện mô hình, chia sẻ: “Từ khi bắt con cua mê (con cua nở từ ấu trùng) về, mất khoảng 5-15 ngày ươm thì có thể xuất bán. Về kỹ thuật, bà con ở đây đều nắm rất vững do có nhiều kinh nghiệm và có sự trao đổi thường xuyên với nhau. Riêng gia đình tôi hiện có 70 hầm cua, lợi nhuận trung bình khoảng 15-20 triệu đồng/tháng”.
Cũng theo anh Tuyên, mỗi tổ viên có trung bình 15-20 hầm cua giống, lợi nhuận trung bình từ 10 triệu đồng/tháng. Đặc biệt, cua giống Cái Trăng hiện được bán đi khắp nơi, từ các địa phương trong tỉnh và các tỉnh lân cận, đến cả các tỉnh ngoài miền Trung.
Được biết, cua giống có 3 kích cỡ chính gồm: cua tiêu (bằng hạt tiêu) có giá khoảng 250 đồng/con, cua dưa (bằng hạt dưa) có giá khoảng 350 đồng/con và cua me (bằng hạt me) có giá khoảng 450 đồng/con. Trong đó, hai cỡ cua tiêu và dưa thường được khách hàng ưa chuộng hơn.
Theo Hội Nông dân huyện Năm Căn, đây là mô hình sản xuất có hiệu quả tại địa phương, cho thu nhập cao tương đương với các mô hình chính là nuôi tôm và cua. Trong tương lai, Huyện Hội sẽ phát triển tổ hợp tác thành hợp tác xã để xây dựng thương hiệu cua giống có chất lượng, nâng cao giá trị kinh tế cho nông dân

nongdan24g.com-Dan Tri

Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , , , | Để lại phản hồi

“Rau hữu cơ”- rau vàng của tương lai

Hiện nay, sản xuất rau theo hướng hữu cơ đã và đang được một số địa phương triển khai, mở ra hướng đi mới giúp nâng cao thu nhập cho nông dân. Tuy nhiên, diện tích đất trồng rau hữu cơ của cả nước hiện chỉ có 151 ha, chiếm 0,4% diện tích sản xuất nông nghiệp do việc sản xuất rau hữu cơ hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Có sự tương đồng rất lớn giữa trồng rau hữu cơ ngày nay với cách trồng rau của người Việt Nam cách đây trên 50 năm.

Rau hữu cơ tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản là không sử dụng phân bón hoá học, không thuốc trừ cỏ, trừ sâu hoá học, không sử dụng chất kích thích hay hormone tăng trưởng, không chất bảo quản hay phụ gia hoá học, và không dùng giống hay thành phần có nguồn gốc biến đổi gene (GMO).

Có sự tương đồng rất lớn giữa trồng rau hữu cơ ngày nay với cách trồng rau của người Việt Nam cách đây trên 50 năm. Khi đó, người dân chưa biết đến phân đạm, phân lân hay thuốc trừ sâu, trừ cỏ. Toàn bộ dinh dưỡng đưa vào là các loại phân xanh, là bèo hoa dâu, là rơm rạ, tro trấu… và sâu bệnh sẽ được xử lý bằng các biện pháp thủ công như làm ngập nước, rải vôi bột, còn lại để tự nhiên quyết định.

Chính vì không sử dụng bất kỳ một loại thuốc hóa học nào nên trồng rau hữu cơ cho năng suất kém và thời gian sinh trưởng chậm hơn hẳn so với các loại rau canh tác theo phương pháp thông thường. Đáng nói hơn cả chính là vấn đề dịch hại. Vì không phun thuốc bảo vệ thực vật nên rau hữu cơ dễ dàng trở thành mục tiêu của các loại sâu bệnh mà cách phòng trừ chỉ là các phương pháp thủ công. Từ đó có thể thấy việc nuôi trồng một cây rau hữu cơ từ đầu cho đến khi thu hoạch được là rất kỳ công.

Sở hữu vẻ ngoài kém bắt mắt hơn hẳn các loại rau khác như xấu mã, có lá dày, phiến lá ngắn và cân đối, dùng tay sờ vào có thể cảm nhận độ cứng của lá, nhìn kỹ một chút sẽ thấy các bộ phận phát triển rất cân đối, không có dấu hiệu thân cây mập. Thân rắn chắc chứ không bóng mượt, rau để ngoài nhiệt độ thường sẽ lâu héo. Khi nấu lên, rau hữu cơ ăn giòn, có vị ngọt, mùi đậm đà, tự nhiên hơn do khả năng tích lũy dinh dưỡng trong một thời gian đủ dài.

Rau hữu cơ được nhiều chuyên gia về môi trường và dinh dưỡng đánh giá cao, là một loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe người tiêu dùng như chứa đầy đủ các nguyên tố vi lượng và đa lượng cần thiết cho sự phát triển của cây. Rau phát triển từ từ nên tích lũy được nhiều chất dinh dưỡng hơn các loại rau an toàn khác vẫn sử dụng phân bón hóa học. Chính vì lẽ đó, các sản phẩm rau hữu cơ sẽ có mùi vị thơm ngon và giàu chất dinh dưỡng hơn hẳn rau thông thường.

Ngoài ra, trung bình số tiền bỏ ra để đầu tư cho rau hữu cơ nhiều gấp đôi các loại rau an toàn khác và lớn hơn từ 5-7 lần so với rau canh tác không có sự kiểm soát. Trong các cửa hàng thực phẩm sạch hiện nay, có thể dễ dàng nhận thấy rằng rau hữu cơ có giá đắt gấp đôi thậm chí có thể gấp ba các sản phẩm rau an toàn khác.

Khảo sát một số cửa hàng thực phẩm hữu cơ trên thị trường có thể thấy giá các loại rau hữu cơ dao động ở mức 28.000-32.000 đồng/kg với đủ loại phong phú từ rau lang, rau muống, mồng tơi, rau sam… Các loại củ quả giá cao hơn, dao động trong khoảng 30-35.000 đồng/ kg. Cao hơn nữa là các loại như rau ngót có giá từ 50-60.000 đồng/kg, rau chùm ngây có giá dao động trong khoảng 100-110.000 đồng/kg.

Hiện nay ở nước ta mới chỉ có vài thương hiệu hữu cơ được chứng nhận quốc tế như: Hoasua Foods, Organik, Organica… cho các sản phẩm rau củ quả, thủy sản, gạo. Bên cạnh các cửa hàng bán rau hữu cơ có trang trại, mô hình sản xuất với địa chỉ rõ ràng như chuỗi cửa hàng rau hữu cơ Bác Tôm, rau hữu cơ Tâm Đạt, rau An Việt… Tuy nhiên, vì lợi nhuận nên rất nhiều nơi rao bán thực phẩm hữu cơ mà không có bất kỳ loại giấy tờ chứng nhận nào. Nhiều cơ sở sản xuất còn chà trộn rau hữu cơ với các loại rau thông thường nhưng khi bán ra thị trường giá vẫn cao gấp 3-5 lần so với rau ngoài chợ.

Là một trong những địa phương đầu tiên triển khai sản xuất nông nghiệp hữu cơ, đến nay toàn tỉnh Hòa Bình có khoảng 35 ha đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ, trong đó có 14,6 ha được cấp chứng nhận hữu cơ với sản phẩm chủ yếu là rau và cây ăn quả có múi. Điển hình như mô hình sản xuất rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn với diện tích 17 ha có 13 nhóm nông dân tham gia, trong đó có 6,6 ha đã được cấp chứng nhận hữu cơ và 10,4 ha chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm. Qua đánh giá, những diện tích đã được cấp chứng nhận hữu cơ năng suất bình quân đạt từ 200 đến 250 tạ/ha/năm, thu nhập đạt hơn 350 triệu đồng/ha/năm. Như vậy, với 6,6 ha được cấp chứng nhận sản xuất nông nghiệp hữu cơ, bình quân mỗi năm cho thu nhập khoảng 160 tấn rau, thu nhập khoảng hơn 2 tỷ đồng. Trong đó, chủng loại rau chủ yếu là muống, cải, ngót, dền, mùng tơi, bí, mướp, dưa chuột, đậu đỗ…”.

Tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội, hiện tổng diện tích sản xuất rau hữu cơ vào khoảng 34 ha được tổ chức sản xuất theo hai hình thức là sản xuất làm tập trung theo nhóm, trong đó các thành viên trong nhóm cùng làm, chấm công, chia đều lợi nhuận kinh tế. Để tiêu thụ rau hữu cơ cho nông dân, đến nay trên địa bàn thành phố Hà Nội đã hình thành 29 chuỗi với 41 siêu thị, cửa hàng, đại lý bán rau hữu cơ. Theo thống kê, trung bình mỗi tháng các nhóm sản xuất rau hữu cơ tại huyện Sóc Sơn đưa ra thị trường Hà Nội từ 40 đến 50 tấn sản phẩm. Đặc biệt, các nhóm sản xuất rau hữu cơ tại huyện Sóc Sơn với giá thu mua ổn định trung bình 15.000 đồng/kg rau, củ, quả các loại, bình quân mỗi thành viên trong nhóm sản xuất trừ chi phí có mức thu nhập từ 4 đến 6 triệu đồng/tháng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, những năm gần đây sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở nước ta đang từng bước phát triển. Hiện nay, đã có 30 tỉnh, thành phố triển khai sản xuất nông nghiệp hữu cơ với diện tích khoảng 43.000 ha, tập trung tại TP Hà Nội và các tỉnh Hòa Bình, Lào Cai, Hà Giang, Hà Nam, Lâm Đồng, Cà Mau, Bến Tre, Bà Rịa-Vũng Tàu. Trong đó, tỉnh Bến Tre có hơn 3.000 ha trồng dừa, Ninh Thuận 448 ha trồng nho, táo, rau… Sản phẩm hữu cơ được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới.

Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho rằng, hệ thống canh tác nông nghiệp hữu cơ đã và đang là xu hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất hữu cơ, phân bón hữu cơ, phân sinh học, vi sinh, chế phẩm thuốc bảo vệ thực vật sinh học; tăng cường tuyên truyền, phổ biến về sản xuất nông nghiệp hữu cơ; nâng cao năng lực của các tổ chức chứng nhận và đội ngũ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp theo hướng xã hội hóa. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt việc thanh tra, giám sát việc sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nhằm giúp người tiêu dùng an tâm khi sử dụng các sản phẩm hữu cơ nhằm bảo đảm lợi ích của người sản xuất cũng như người tiêu dùng.

nongdan24g.com-Hoàng Giang/HND
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , , , , , | Để lại phản hồi

Bí quyết trồng đu đủ đạt hiệu quả cao

Đu đủ là một trong những loại cây ăn trái vừa ngon vừa giàu dinh dưỡng nên thị trường lúc nào cũng tiêu thụ mạnh. Do đó, cây đu đủ ngày càng được trồng phổ biến trên cả nước.

Tuy nhiên không phải ai cũng trồng đạt hiệu quả cao vì đây là một loài cây tương đối khó tính.

Sau nhiều năm gắn bó vời nghề trồng đu đủ, một loại cây ăn trái ngắn ngày, anh Nguyễn Văn Bằng và em ruột là Nguyễn Văn Trường cùng ở ấp An Hòa, xã An Lạc Tây, huyện Kế Sách – Sóc Trăng đã thành công với mô hình trồng đu đủ.

Vườn đu đủ của anh Bằng ra trái đầu vụ

Theo anh Bằng, đu đủ tuy dễ trồng, công chăm sóc nhẹ hơn trồng rau màu, vốn đầu tư nhẹ, mau ăn, nhưng muốn đạt năng suất và chất lượng cao, người trồng trước hết phải biết chọn giống, chọn đất và chú ý về khâu kỹ thuật trong suốt quá trình từ lúc gieo hạt cho đến khi cây trưởng thành.

Bí quyết làm cho cây đu đủ tăng trưởng nhanh và sạch bệnh là khâu xử lý đất. Đầu tiên là phải xới đất cho xốp, lên liếp hoặc đắp mô. Kế đến là bón lót vôi, lân, ka li cộng thêm với phân chuồng hoai trước khi đặt cây trồng. Đu đủ ưa đất nạc, cao ráo và ánh nắng. Ánh nắng rất quan trọng đối với cây đu đủ, nếu thiếu ánh sáng cây sẽ chậm phát triển, dễ bị bệnh, trái không sai và không to.

Đu đủ anh trồng là giống ruột vàng và ruột đỏ. Để cây phát triển tốt, anh tự chọn hạt giống đem về ngâm, ủ, cho đến khi hạt nẩy mầm mới gieo vào các bầu đất. Khi cây được 4, 5 lá, cao 15 – 20cm thì bắt đầu trồng xuống đất. Thông thường một cây đu đủ trồng đạt yêu cầu có thể cho trái từ tháng thứ bảy và trái kéo dài liên tục từ 7 tháng đến 1 năm sau mới chấm dứt. Trồng đúng kỹ thuật là giữ cho cây trồng tuyệt đối không bị úng nước và ngã đổ. Muốn vậy, nhà vườn phải theo dõi đường thoát nước, dùng cây chống đỡ gió bão một cách an toàn và thường xuyên cắt bỏ những trái không đạt chất lượng. Có như thế trái mới to và năng suất cao.

Hiện hai anh em trồng chung được 6 công đang vào mùa thu hoạch, bình quân mỗi công trồng 300 cây (tổng cộng 1.800 cây). Các anh cho biết nếu trồng đạt kỹ thuật, bình quân mỗi cây cho năng suất từ 20 – 30kg/vụ/năm.

Thời gian đầu mỗi ngày các anh hái trái một lần, mỗi lần 2 tấn. Hái xong dùng giấy báo gói lại từng trái rồi cho vào thùng xốp chuyển ra Hà Nội. Khi trái bắt đầu thưa, mỗi tuần hái hai lần hoặc một lần. Giá bán hiện nay tại vườn là 5.000đ/kg. Nếu bán lẽ giá sẽ cao hơn. Tính ra mỗi vụ đu đủ các anh thu nhập trên 200 triệu đồng. Năm nào hàng hút thu nhập sẽ cao hơn. Tính ra ngon ăn hơn trồng rau màu.

Ưu điểm của cây đu đủ là mau ăn, giá cả ổn định vì ngoài đu đủ chín, thị trường đu đủ xanh hiện nay cũng tiêu thụ mạnh. Ông Ngô Hoàng Vũ, một thương lái cho biết mỗi ngày ông thu mua trên 1 tấn đu đủ xanh và chín để chuyển cho các vựa đóng hàng đi TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội.

nongdan24g.com-THÀNH HIỆP/NNVN
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , , | Để lại phản hồi

Kỹ thuật bón phân cho cây na trên đất dốc Lạng Sơn

Na là một loại cây có tính thích ứng rộng, chịu được mùa khô khắc nghiệt. Quả na có độ ngọt cao, lại có hương thơm nên được nhiều người ưa thích.

Phân Văn Điển không tan trong nước nên không bị rửa trôi, đặc biệt phù hợp cho vùng cao, đất dốc
Việt Nam hiện có 2 loại: Na dai và na bở. Na dai chống úng kém nhưng chống hạn tốt. Na dai chịu rét tương đối tốt, mùa đông ngừng sinh trưởng, rụng hết lá, mùa xuân ấm áp trở lại vào tháng 4 – 5 lại ra đợt lá mới và ra hoa. Nhờ đó, na dai trồng được trên nhiều vùng khí hậu, cả vùng đất cao hạn gặp mùa khô khắc nghiệt của các tỉnh phía Bắc như Thái Nguyên, Cao Bằng, Quảng Ninh, Lạng Sơn…

Tại huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn), các nương, đồi na chạy dài theo sườn đồi và thung lũng chân các dãy núi đá vôi. Vùng núi đá Cai Kinh và Tam Yên (Yên Sơn, Yên Thịnh, Yên Vượng) là những vùng na dai nổi tiếng của huyện Hữu Lũng, mỗi xã có vài trăm ha chạy theo sườn và chân núi đá.

Ở vùng này, các dải đất và đá xen kẽ, đá nổi nhiều, tầng đất không dày và kết cấu rời rạc, độ dốc lớn nên hiện tượng rửa trôi diễn ra rất khốc liệt. Tuy chịu được đất xấu nhưng cây na chỉ phát huy được ưu điểm trên đất không chua, nhiều màu. Nếu thiếu phân bón chóng già cỗi, nhiều hạt, ít thịt (cơm). Do vậy, phải chăm sóc cây từ khi mới trồng và cung cấp đầy đủ, cân đối các chất dinh dưỡng để cây khoẻ, nhiều nhựa, sức sống tốt mới cho nhiều quả, ngon.

Đất đồi ở Hữu Lũng hầu hết kết cấu rời rạc, giữ dinh dưỡng kém. Khi sử dụng các loại phân đơn, phân NPK thông thường rất dễ bị rửa trôi, mặt khác các loại phân trên chỉ cung cấp được 1 – 3 thành phần NPK, còn thiếu hầu hết các chất dinh dưỡng trung, vi lượng mà những chất này cực kỳ cần thiết cho cây na.

Phân bón được vùi vào đất sẽ không bị rửa trôi và cây na ăn dần trong suốt vụ. Vườn na trên 5 tuổi nên tăng lượng phân bón cho vườn để có năng suất thu hoạch cao.
Phân lân nung chảy Văn Điển được sản xuất bằng cách nấu chảy hỗn hợp quặng phosphat với serpentin hoặc olevin, manhezit ở nhiệt độ 1.400 – 1.450 độ C, sau đó làm lạnh đột ngột nên sản phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng. Trong đó, P2O5 15 – 19%, MgO 15 – 18% ,SiO2 24 – 32%, CaO 28 – 34%, và đầy đủ các chất vi lượng như: Chất sắt: 4%, Chất Mangan: 0,4%; chất đồng: 0,02%; Chất molipden: 0,001%; Chất Coban: 0,002; Chất Bo: 0,008%; Chất Kẽm: 0,00014%.

Phân Văn Điển không tan trong nước nên không bị rửa trôi, đặc biệt phù hợp cho vùng cao, đất dốc; chỉ tan trong môi trường a xít yếu do rễ cây tiết ra nên khi cây ăn hết phân, cây chưa ăn đến còn tồn lại các vụ sau.

Phân bón đa yếu tố NPK Văn Điển loại NPK 5:10:3 dạng viên có đầy đủ các chất dinh dưỡng: N 5%. P2O5 10%, K2O 3%, Mg 9%, SiO2 14%, CaO 15%,và các chất vi lượng: Zn, Cu, Mn, B, Mo…

Loại NPK 12:5:10 có hàm lượng: N12%, P2O5 5%, K2O 10%, Mg2%, SiO2 4%, CaO 5%… giúp cây na phát triển khỏe và bền, ít sâu bệnh hại, nhiều quả, quả to đều, chất lượng thơm, ngon.

Cách dùng phân bón Đa yếu tố NPKVăn Điển cho cây na (lượng bón kg NPK/cây):

       Loại phân
Tuổi cây
Bón đợt I
NPK (5:10:3)
Bón đợt 2
NPK (12:5:10)
Bón đợt 3
NPK (12:5:10)
KTCB(1-3 tuổi) 0,5 – 2,0 0,3 – 0,5 0,3 – 0,5
3-5 tuổi 2,5 – 3,0 1,5 – 3,0 1,5 – 3,5
Trên 5 tuổi Trên 3,5 Trên 3 Trên 4

Cách bón :

– Tạo rãnh: Ghé lưỡi cuốc tạo rãnh xung quanh mép tán, độ sâu 3 – 5cm, rắc phân NPK xong lấp đất, ủ rác phủ quanh tán giữ ẩm cho đất, tạo điều kiện cho rễ phát triển.

– Các đợt bón:

+ Bón đợt I: Tháng 9 -1 0 sau khi thu hái quả; có thể bón đến tháng 1 trước khi đốn tỉa cành, tuốt lá. Nếu có phân hữu cơ ủ mục bón cùng ĐYT NPK 5:10:3 rất tốt. Trên sườn dôc hoặc khe đá nên sử dụng lân nung chảy Văn Điển và tạo mọi điều kiện để vùi phân và lấp đất kín.

+ Bón đợt II: Tháng 2 – 4 bón đón lộc, đón hoa.

+ Bón đợt III: Tháng 6 – 7 bón nuôi cành, nuôi quả.

Các đợt 2,3 sử dụng phân đa yếu tố NPK 12:5:10, bón theo tán cây. Nếu trời khô hạn có thể ngâm nước khoảng 15 – 20 phút cho phân tan rồi hòa tưới.

nongdan24g.com-TIẾN CHINH – LÊ THU/NNVN
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , | Để lại phản hồi

Về Hoà Lộc tìm nguồn gốc “vua” của các loại xoài

Là giống xoài nổi tiếng ngon của Nam Bộ, xoài cát Hòa Lộc được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng bởi màu sắc hấp dẫn, mùi vị thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Xoài cát Hòa Lộc có dạng trái thon dài, tròn mình, eo rốn trái rõ, đỉnh trái nhọn, bầu tròn gần cuống.
Xoài cát Hòa Lộc

Khi chín, trái màu vàng tươi, vỏ mỏng, phủ lớp phấn trắng mịn, có đốm nhỏ, màu nâu đen, đốm dạng tròn; thịt trái màu vàng tươi, dày, độ chắc thịt cao, mịn, dẻo, ít nước, ít xơ.

Trái có vị rất ngọt, mùi thơm dịu đặc trưng. Nguồn gốc của xoài cát Hòa Lộc được trồng tại làng Hòa Lộc, nay là ấp Hòa thuộc xã Hòa Hưng.

Đây là vùng đất ven sông Tiền nên tích tụ nhiều phù sa rất thích hợp cho xoài sinh trưởng và phát triển. Ngoài ra, một số vùng khác cũng có thổ nhưỡng phù hợp để duy trì loại xoài này là xã Hòa Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Tân Hưng, Tân Thanh…

Theo Ths. Nguyễn Việt Hoa, Chủ tịch Hội Làm vườn huyện Cái Bè: Xoài cát Hòa Lộc được trồng lâu đời nhất ở huyện Cái Bè.

Giống xoài này bắt đầu nổi tiếng từ những năm 1939 – 1940 sau khi đoạt giải cao trong các cuộc đấu xảo, giống xoài cát này đã trở thành đặc sản quý, được dâng lên tế lễ nơi đình thần, mà di tích ngày nay là Đình thần Hòa Lộc.

Xoài cát Hòa Lộc đã được Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cấp văn bằng bảo hộ Chỉ dẫn địa lý vào ngày 30-9-2009 với tên “Chỉ dẫn địa lý xoài cát Hòa Lộc”.

Theo đó, chỉ có xoài trồng tại địa danh này mới được mang tên xoài cát Hòa Lộc. Những năm gần đây loại  trái cây này đã đem lại giá trị kinh tế cao cho nông dân xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè nói riêng và Tiền Giang nói chung.

Nhờ chất lượng ngon, hương vị đậm đà nên hiện nay giống xoài cát Hòa Lộc đang được trồng với quy mô công nghiệp.

Hiện loại trái cây đặc sản này đã mang lại nguồn thu lớn cho nông dân ở xã Hòa Hưng. Với giá trung bình từ 20.000 – 70.000 đồng/kg tùy thời điểm, mỗi ha cho giá trị từ 200 – 400 triệu đồng và là cây trồng có hiệu quả kinh tế nhất hiện nay tại xã.

Anh Huỳnh Văn Sang ở ấp Hòa có 5 công đất trồng xoài cát Hòa Lộc, mỗi năm cho thu hoạch khoảng 6 tấn xoài thương phẩm, bán được 150 triệu đồng. Mới đây, nhờ xoài cát Hòa Lộc mà anh đã xây ngôi nhà mới trị giá 500 triệu đồng.

Hay hộ anh Trần Văn Nở ở ấp Bình trồng 108 gốc xoài cát Hòa Lộc, mỗi năm gia đình anh thu nhập hơn 100 triệu đồng.

Theo số liệu thống kê của UBND xã Hòa Hưng, hiện xã có khoảng 600 ha trồng xoài cát Hòa Lộc. Năm 2012 được Dự án xây dựng và kiểm soát chất lượng nông sản thực phẩm do Cơ quan Phát triển quốc tế Canada (CIDA) tài trợ, Hợp tác xã Xoài cát Hòa Lộc đã tham gia mô hình sản xuất xoài cát Hòa Lộc được công nhận là mô hình trồng xoài cát Hòa Lộc theo tiêu chuẩn VietGAP.

Năm 2012 được chứng nhận theo tiêu chuẩn VietGAP 11,1 ha/19 hộ; năm 2013 được tái chứng nhận và mở rộng lên 20,73 ha/34 hộ; năm 2014 chứng nhận cho 20,1 ha/ 33 hộ đạt tiêu chuẩn GlobalGAP (thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu).

Được biết, xoài cát Hòa Lộc là 1 trong 7 loại trái cây chủ lực được tỉnh đầu tư phát triển. Mới đây, Đề án Tái cơ cấu nền nông nghiệp của tỉnh cũng chọn trái xoài làm bước đột phá cho các loại cây trái còn lại.

Đến nay, tỉnh đã xây dựng được vùng chuyên canh 1.600 ha, tập trung tại các xã giáp sông Tiền của huyện Cái Bè, gồm: Hòa Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Tân Thanh, Tân Hưng, Mỹ Lương, An Thái Đông, Mỹ Đức Tây, Mỹ Đức Đông, Thiện Trí, Hòa Khánh…

Thương hiệu xoài cát Hòa Lộc hiện nay không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn đang vươn ra thế giới, xuất khẩu sang một số thị trường khó tính nhất.

Đặc biệt, sản phẩm này đã được xuất khẩu sang các thị trường đầy tiềm năng như: Pháp, Mỹ, Canada, Australia, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc… Nhờ vậy, thu nhập của nông dân trồng xoài cát Hòa Lộc không ngừng được nâng cao.

Nongdan-Báo Ấp Bắc
Đăng tải tại Giao thương | Thẻ , , , , , , | Để lại phản hồi

Thịt gia cầm nhập khẩu đang “giết” người chăn nuôi trong nước

Đó là các kiến nghị đáng chú ý tại hội thảo “Tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch cúm gia cầm và các giải pháp phát triển chăn nuôi gia cầm bền vững”, do Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ NNPTNT) phối hợp Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam tổ chức ngày 4.4, tại Bắc Giang.

Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp

TS Hoàng Thanh Vân – Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NNPTNT) cho biết, trong những năm qua ngành chăn nuôi gia cầm có sự phát triển rất khá, đáng chú ý là năm 2016 có sự tăng trưởng cao nhất trong 10 năm gần đây với trên 6% về sản lượng thịt và trên 7% về sản lượng trứng. “Năm 2016 Việt Nam có sản lượng thịt gia cầm sản xuất đạt khoảng 1,7-1,8 triệu tấn và trở thành một trong 10 nước sản xuất thịt gia cầm lớn nhất thế giới. Song chúng ta chủ yếu chỉ tiêu thụ lượng thịt đó trong nước, kèm theo các sản phẩm nhập khẩu khá lớn đã làm cho cung vượt cầu dẫn đến giá sản phẩm cuối năm 2016 gần như xuống đáy, khiến người chăn nuôi thua lỗ nặng nề” – ông Vân chia sẻ.

Chăn nuôi gà ở xã Thanh Vân (Tam Dương (Vĩnh Phúc). Ảnh: T.Q
Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để người chăn nuôi từng bước chuyển dần từ chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, thuy quy hoạch, sản xuất hàng hóa và có kiểm soát. Đồng thời hướng dẫn người dân chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và theo hướng VietGAP”.

TS Hạ Thúy Hạnh

 

Đứng trước tình hình đó, ông Vân cho rằng, cần phải rà soát, cơ cấu lại sự phát triển của ngành  chăn nuôi gia cầm. “Đầu tiên chúng ta phải xem xét lại quy hoạch không gian, đặc biệt các địa phương nào ở vùng ven đô, đông dân cư thì không nên khuyến khích phát triển gia cầm. Đồng thời chúng ta phải cơ cấu lại con giống, quan điểm của tôi chỉ nên nuôi gà công nghiệp lông trắng duy trì ở mức 28 – 30%. Chúng ta nên chú trọng vào gà lông màu, đặc biệt là gà lông màu đẻ trứng với tỷ lệ thích hợp” – ông Vân nói.

Ông Vân cho hay: “Đã đến lúc chúng ta phải khơi thông lại thị trường xuất khẩu, và nhà nước phải có chiến lược một cách bài bản để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ và hướng tới từng thị trường một, đặc biệt là các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU… Với cách làm như thế thì chúng ta mới tránh được với sự phát triển quá nóng đàn gia cầm dẫn đến không tiêu thụ được và sẽ giúp cân đối được cung – cầu  trong nước cũng như ngoài nước”.

Cũng theo ông Vân, để giúp nông dân chăn nuôi gia cầm bền vững, nhà nước cần phải tăng cường kiểm soát thịt nhập khẩu từ các nước, nhất là về chất lượng thịt gia cầm. Đặc biệt phải chặn đứng được việc nhập lậu sản phẩm gia cầm không rõ nguồn gốc qua biên giới. Đồng thời chúng ta phải tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, khuyến cáo cho người dân sử dụng các sản phẩm có chất lượng để đảm bảo sức khỏe.

Không chủ quan với dịch bệnh

TS Hạ Thúy Hạnh – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia cho biết, trong 6 năm (2011 – 2016), trung tâm đã triển khai và quản lý 6 dự án khuyến nông trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm với quy mô trên 1 triệu con, với 9.739 hộ tham gia. Các dự án đã triển khai tập huấn kỹ thuật cho hơn 8.000 lượt người trong và ngoài mô hình, đồng thời tổ chức cho 6.470 tham gia nhân rộng mô hình.

Đề xuất giải pháp để phát triển chăn nuôi bền vững, bà Hạnh cho rằng: “Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để người chăn nuôi từng bước chuyển dần từ chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, thuy quy hoạch, sản xuất hàng hóa và có kiểm soát. Đồng thời hướng dẫn người dân chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và theo hướng VietGAP. Bên cạnh đó, các địa phương cần có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào giết mổ, chế biến và bao tiêu sản phẩm gia cầm thì người chăn nuôi mới có thể yên tâm sản xuất, nâng cao  thu nhập”.

 

Ông Ken Inui – chuyên gia quốc tế thuộc Tổ chức Nông – lương Liên Hợp Quốc (FAO) cho rằng: “Do tiếp giáp với Trung Quốc, Việt Nam là khu vực hết sức nhạy cảm với dịch cúm gia cầm và cần sự quan tâm đặc biệt từ các tổ chức trong nước và quốc tế trong việc kiểm soát và ngăn chặn sự bùng phát của dịch. Tuy nhiên, trong năm 2017, chỉ một vài khu vực tại Việt Nam xuất hiện dịch cúm gia cầm và với số lượng gia cầm bị lây nhiễm không đáng kể, hơn nữa cúm A/H7N9 được xác định chưa xuất hiện tại Việt Nam. Qua đó minh chứng rằng Việt Nam là quốc gia thành công trong công tác kiểm soát và ngăn chặn dịch cúm gia cầm.

Ông Hoàng Thanh Vân cho biết, năm nay tình hình dịch cúm xảy ra ở Việt Nam không nhiều, đến thời điểm này cả nước chỉ ghi nhận có 14 điểm cúm. “Tuy nhiên trong chăn nuôi gia cầm, bà con phải xác định không được chủ quan với dịch cúm, bà con phải chủ động tiêm phòng đầy đủ vaccine phòng trừ các bệnh dịch nguy hiểm theo quy định. Về phía các địa phương phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát điều kiện vệ sinh thú ý tại các cơ sở chăn nuôi đồng thời tổ chức kiểm dịch các sản phẩm trước lúc xuất chuồng…” – ông Vân nhấn mạnh.

Theo số liệu thống kê của Sở NNPTNT Bắc Giang, năm 2016 đàn gia cầm toàn tỉnh có khoảng trên 17 triệu con, trong đó, đàn gà là gần 15 triệu con, thủy cầm trên 2 triệu con. Ông Dương Thanh Tùng – Phó Giám đốc Sở NNPTNT cho biết, hiện tại tỉnh, mô hình chăn nuôi trang trại đang phát triển nhanh, toàn tỉnh có 270 trang trại chăn nuôi gia cầm, tỷ lệ trang trại, gia trại an toàn sinh học chiếm 30% tổng đàn.

Ông Tùng cho biết, tỉnh luôn đặc biệt chú trọng làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh. Nhờ thế mà trong nhiều năm trên địa bàn tỉnh không để xảy ra dịch cúm gia cầm, giảm thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi.

Nongdan24g.com-Danviet
Đăng tải tại Giao thương | Thẻ , , , , , , , , | Để lại phản hồi