Kinh nghiệm trồng rau nhút

Trồng rau nhút khá đơn giản, không cần chăm sóc, không phân thuốc, cây phát triển mạnh mẽ trong mùa nước, là loại rau dễ ăn nhiều lợi ích chữa được một số bệnh.

Rau nhút thả quanh năm trên các mặt ao hồ. Nhưng ở những nơi ruộng nước hoặc bãi bồi dọc hai bên bờ sông phải đợi đến mùa nước nổi mới bắt đầu thả. Còn trong mùa khô hạn, bà con tận dụng ao hồ có sẵn hoặc trên ruộng lúa có bờ bao giữ nước để thả.

Nhờ hệ thống rễ chùm đặc biệt phát triển, cây rau rút có thể hút các chất vô cơ và hữu cơ hòa tan trong nước. Tuy nhiên nếu trồng rau ở khu vực ao hồ có nguồn nước ô nhiễm, dễ gây tích tụ kim loại nặng. Các chất này có trong nước thải chưa được xử lý triệt để. Chúng có thể làm rau rút bị vàng lá, thối phao, thân nhũn, rễ có màu đen, ngọn teo lại, và lá không mở ra được dẫn tới gây chết hàng loạt các bè rau.

Vì vậy khi nuôi thả rau rút, bà con cần chú ý bảo đảm nguồn nước sạch và không bị ô nhiễm. Như vậy cây rau có thể sinh trưởng phát triển mạnh và cho năng suất cao nhất.

Khi bà con cấy rau rút trên ruộng trũng cải tạo, mực nước trong ruộng cần đảm bảo từ 30- 50cm. Nếu nước trong ruộng bị khô thì rau rút sẽ kém phát triển. Đối với các ao hồ, cần có độ sâu khoảng 1-2m, nước sạch, cấp thoát nước thuận tiện. Như vậy sẽ giữ nhiệt độ nước mát mẻ trong giai đoạn mùa nóng, tránh làm cây bị héo phao. Từ đó, cây sẽ phát triển xanh tốt hơn.

Thời vụ :

Cây rau rút ưa khí hậu nóng, không chịu được mùa đông lạnh. Vì thế việc trồng hay để giống qua mùa đông thường gặp khó khăn. Ở miền Bắc, thời vụ trồng rau rút có thể kéo dài từ tháng 3 – tháng 9 âm lịch. Chính vụ thường vào thời điểm tháng 5 khi thời tiết ấm áp.

Trong cả thời vụ trồng rau rút trong năm, cứ 3 tháng bà con cần tiến hành trồng mới diện tích rau trong ao. Như vậy sẽ giữ được mật độ rau không quá dày, giúp rau rút có diện tích phù hợp để bò lan. Như thế cây rau sẽ to khỏe và xanh non hơn.

Cách trồng rau nhút khá đơn giản. Đa phần người trồng đều lợi dụng mặt nước có độ sâu từ 3 – 5 cm. Trồng rau rút, phải trồng thành nhiều khóm. Mỗi khóm nên chỉ trồng 2 ngọn. Mật độ : Khóm cách khóm : 2.5m. Trước hết người ta chọn những gốc rau khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, mỗi đoạn dài chừng 3 – 4 cm buộc đều khoảng vào những cây trúc hoặc sậy để giữ không cho trôi mất. Sau 30 ngày, rau sẽ phát triển, bò lan khắp mặt nước.

Ngoài ra, bà con nên thả thêm bèo tấm vào ao rau rút. Bởi vì tau rút là loại cây thảo nổi ngang mặt nước nhờ lớp phao xốp màu trắng. Khi vào mùa mưa, thân rau rút thường bị nặng, dễ bị chìm. Bèo ở trong ao sẽ giúp nâng thân, phao rau rút lên. Bên cạnh việc thả bèo tấm trong ao rau rút không chỉ giúp giữ thân rau ổn định trên mặt nước, bèo còn có tác dụng che phủ, làm trong và mát nước ao. Từ đó tạo điều kiện mát mẻ để rau rút sinh trưởng trong mùa nắng nóng. Những ngày thời tiết quá nóng, bà con chú ý dùng loại bèo này che phủ cho thân rau rút để tránh lớp phao quanh thân cây rau bị khô.

Chăm sóc :

Bón phân : Bà con có thể sử dụng phân đạm, phân lân hòa tan với nước để tưới cho khóm rau. Như vậy rau sẽ hấp thụ dinh dưỡng nhanh hơn và tiết kiệm lượng phân hơn khi bón trực tiếp xuống ao ruộng.

Khối lượng : Lúc mới trồng 3kg đạm+2kg lân/ 1 sào Bắc Bộ.  Rồi tăng dần lên theo độ lớn của rau. Trong quá trình chăm sóc thì bón phân thành chu kỳ của nó, cứ 3 ngày bón tưới 1 lần.

Ngoài ra bà con có thể kết hợp dùng phân bón qua lá để phun cho cây sau mỗi đợt thu hoạch. Như vậy sẽ giúp cây lấy lại sức và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây mau ra ngọn nonBà con chú ý không nên phun vào thời điểm gần với ngày thu hoạch để tránh lãng phí dinh dưỡng do cây chưa kịp hấp thu.

Ghìm rau rút: Cứ 3 ngày, bà con nên dùng sào đi ghìm rau rút xuống nước \ 1 lần. Ông Tấn cho biết, làm thế này để dìm các phao của rau rút xuống nước để tránh phao bị nắng nóng làm héo. Bởi nếu phao rau bị héo, rau sẽ không tươi ngon và sinh trưởng phát triển chậm. Còn khi phao ngập nước, rau sẽ mọc nhanh và vươn dài hơn Đồng thời trong quá trình ghìm rau, bà con cũng phải kiểm tra lượng bèo trong ao để kịp thời điều tiết lượng bèo, tránh để bèo quá dầy ảnh hưởng tới rau rút.

Phòng trừ các đối tượng gây hại :

Rau rút hầu như không có sâu bệnh, không phải phun thuốc bảo vệ thực vật.  Tuy nhiên khi trồng rau rút, bà con cần chú ý diệt sạch ốc bươu vàng. Đây là đối tượng gây hại rất lớn cho rau rút. Để khắc phục hiện tượng ốc biêu và cá tạp ăn hại rau rút, bên dưới những bè rau, ông Tấn thả cá trắm đen và cá trê lai. Cá trắm đen để diệt ốc biêu vàng, còn cá trê lai sẽ ăn cá tạp trong đầm.

Thu hoạch :

Sau khi trồng từ 10-15 ngày bà con có thể tiến hành thu hoạch rau. Mỗi lần thu hoạch cách nhau từ 7-10 ngày. Nếu được chăm sóc tốt cây rau rút có thể kéo dài thời gian thu hoạch từ 6-7 tháng.

 

 

 

 

Advertisements
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Kỹ thuật trồng và chăm sóc sen lấy củ

Phần trình bày dưới đây chỉ mang tính gợi ý, kỹ thuật canh tác sen phụ vào yếu tố giống, điều kiện đất và thời tiết để mỗi nông trại có kỹ thuật canh tác phù hợp.

Có hằng trăm giống sen được trồng theo mục đích lấy củ, lấy hạt hoặc lấy hoa. Có giống có 2 hoặc cả 3 đặc tính trên nhưng được xếp loại theo đặc tính có ưu thế nhất. Giống cho củ có rất ít hoa, thường là hoa trắng, giống cho hoa hạt rất ít, không cho củ. Nhiều giống sen cho củ nhiệt đới không cho củ nếu không có thời kỳ lạnh kéo  dài giúp cây dự trữ chất dinh dưỡng để sinh tồn.
Giống cho củ thường phần rễ có 3-4 đoạn kéo dài giống khoanh xúc xích để các chất dinh dưỡng tích lũy khi điều kiện phù hợp.

Trồng sen

1. Nhân giống – Nhân giống vô tính từ củ

Đây là phương pháp thuận tiện, nhanh chóng và dễ dàng nhất nhằm giữ được các đặc tính của cây giống ban đầu. Nguồn củ giống được lấy từ vụ trước hoặc những hồ sen chuyên sản xuất giống. Củ giống có ít nhất 2 lóng, cắt ngang đoạn cuối vùi vào đất ẩm sâu 5cm tạo góc nghiêng 15oCủ sen càng lớn càng cho cây mạnh.
Điều cần lưu ý là củ sen có tính miên trạng nên không thể trồng ngay sau vừa thu hoạch. Phải mất ít nhất 3 tháng củ mới có thể nẫy mầm, nếu trồng ngay phải xử lý bằng nước nóng.
Tại Đồng Tháp, phần lớn sen trồng bằng cách tách ngó từ bụi sen đem cấy với mật độ hàng cách hàng 2,5-3m, cây cách cây 2-2,5 m, kỹ thuật này cho phép bắt đầu thu hoạch gương sau 4 tháng.

2. Chuẩn bị đất

Thiết kế hồ rất quan trọng trong sản xuất sen vì khi đã thiết kế rất khó thay đổi. Vì vậy cần quan tâm đến thiết để thuận tiện cho sản xuất, thuận tiện cho việc bơm và giữ nước. Hồ sâu thích hợp ở đất có địa hình cao, nếu địa hình thấp cần có bờ bao giữ nước.
Đáy hồ cần được bằng phẳng, có lớp sét giữ nước. Tuy nhiên nhiên nếu sét quá nặng sẽ khó thu hoạch củ sen sau này. Lớp đất mặt tơi xốp rất cần thiết và độ dầy của nó tùy thuộc vào loại giống. Có thể tiến hành bón vôi, nhất là đối với đất phèn.

3. Các nhu cầu về môi trường của cây sen

Đất

Đất có tác dụng giúp rễ cây bám vào và phát triển, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, ỗn định pH. Để thuận tiên cho cây sen phát triển và thu hoạch, nhất là theo hướng củ, đất cần có một số đặc tính nhất định như hơi không ngấm nước để củ sen có màu trắng kem.
Cấu trúc lớp đất mặt phải mịn để tránh củ bị trầy xướt. Trong môi trường nước, khi đánh bùn, tác động của trọng lực, những hạt đất có kích thước to mằm dưới, hạt nhỏ nằm trên góp phần làm củ không bị biến dạng. Đất thịt pha sét phù hợp cho củ sen nhất.
Đất không thích hợp cho sen bao gồm đất sét nặng rất khó cho rễ phát triển và thu hoạch củ. Tương tự đất cát cũng làm thu hoạch khó khăn do bản chất di động và trọng lượng cao của cát, nó không mang nhiều chất dinh dưỡng và ảnh hưởng đến chất lượng củ (Liu, 1994).
Đất chứa chất hữu cơ từ nguồn không xác định cũng không phù hợp. Chúng có thể chức tannins làm nước bị mặn, hay chứa các chất rắn có thể làm tổn thương củ. Hơn nữa các hạt chất hữu cơ có thể lớn hơn hạt đất. Chất hữu cơ phù hợp phải là phân chuồng ũ với các chất độn có tỷ lệ N/C cao đã hoai mục, nó giúp cho đất giữ được các chất dinh dưỡng, cấu trúc đất tơi xốp và gíup đất ngấm nước nhẹ. Các nghiên cứu cho thấy kích thước hạt và tính thấm có ảnh hưởng đến phẩm chất củ (Nguyen & Hick, 1998).
Chất hữu cơ phải bón khi đất khô, tốt nhất là trước khi trồng. Nếu củ giống đã hết miên trạng thì chất hữu cơ tốt nhất là bón trên mặt hơn là trộn trong đất. Nếu củ sen chưa hết miên trạng thì nhiệt độ cao của chất hữu cơ sẽ kích thích sen nảy mầm.
Chở đất tốt từ nơi khác đến được thực hiện rất tốn kém, tuy nhiên sẽ thích hợp cho canh tác sen trong lâu dài.

Thời tiết

Cây sen cần nhiệt độ ấm của vùng nhiệt đới, bình quân là 25 oC. Sen không tăng trưởng ở vùng bị sương giá do nó rất nhạy cảm với nhiệt độ lạnh. Tuy nhiên củ sen có đặc tính miên trạng qua đông nhằm gíup sen tồn tại.
Do đó thời vụ trồng sen cần bố trí trong mùa nắng, lúc ngày dài. Việc phân hóa củ bị kích thích khi gặp ánh sáng giảm và nhiệt độ thấpTại Đồng Tháp, sen đuợc trồng vào 2 thời vụ chính
– Vụ Đông xuân: trồng vào tháng 12 đến tháng 1 dương lịch
– Vụ Hè thu: trồng vào tháng 5 đến tháng 6 dương lịch. Đây là mùa tốt để sen phát triển.

Chất lượng nước

Chất lượng nước rất quan trọng để sen tăng trưởng tốt. Nhiệt độ nước thích hợp và nước phải trong. Nước cũng là yếu tố giới hạn ở các vùng ven biển của nhiều nước. Ngay cả nước có mưa biến đổi theo mùa. Vùng phải phụ thuộc hoàn toàn vào nước bơm và đất không thích hợp bị ngập như đất mặn hay đất bạc màu.
pH đất biến động không lớn ở các nước trồng sen châu Á, sen có thể thích nghi tốt với biến động của pH đất. pH thích hợp nhất là 6-6,5.
Độ sâu thích hợp nhất là 20cm, khi mới gieo chỉ cần 5 cm. Thay đổi độ sâu sẽ ảnh hưởng đến nhiệt độ nước. Độ sâu càng tăng, tính giữ nhiệt càng kéo dài. Việc tăng độ sâu của nước sẽ giúp không chế bệnh thối củ do Nấm Fusarium oxysporum  pv nelumbicola do nấm này cần oxygen. Nước sâu quá sẽ ảnh hưởng đến phát triển bộ rễ vì việc vận chuyển không khí từ lá qua hệ thống vận chuyển khí gặp trở ngại (Honda, 1987). Việc hình thành củ cũng bị kích thích khi thiếu nước. Cây không bị thiếu nước sẽ không có dấu hiệu hình thành củ và tiếp tục giai đoạn tăng trưởng dinh dưỡng. Do đó nông dân cần tạo sự thiếu nước để kích thích hình thành củ, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của thị trường.
Cây sen có thể chịu được nồng độ muối nhất định. Những khảo nghiệm bước đầu cho thấy thành phần natri trong muối bị thay thế bởi ion kali ở nồng độ thấp, mở triển vọng trồng sen ở những nơi bị nhiễm mặn. Nồng độ muối được thể hiện qua độ dẫn điện EC, cây sen chịu được EC 2,8-3,1 mS cm. Lá non bắt đầu bị vàng khi EC 3,2-3,5 mS cm, tăng trưởng ngừng lại

4. Kỹ thuật canh tác

Đặt hom

Đặt hom củ khi nhiệt độ nóng ấm, hom được đạt theo hàng, hàng cách hàng 2-3m, cây cách cây 1,2-3m, khoảng cách này thay đổi theo giống và điều kiện canh tác. Cây cách bờ hồ 1-2 m.
Lượng hom giống cần thiết phụ thuộc vào khoảng cách trồng. Với mật độ 1,2 x 2m ước lượng cần 4000 hom (Honda, 1987). Trái lại, những nông dân mới cần mua hom giống hoặc dành riêng một diện tích đất để nhân giống liên tiếp trong 2 vụ. Việc du nhập hom giống rất tốn kém do phải qua khâu kiểm dịch, khảo nghiệm tính thích nghi trước khi phóng thích.

Dinh dưỡng và biểu hiện thiếu dinh dưỡng

Bón phân phải dựa trên phân tích đất, lá sen ở các giai đoạn tăng trưởng khác nhau. Lượng dinh dưỡng bị ảnh hưởng bởi loại đất và các biện pháp canh tác trước đó. Phân tích đất sẽ phát hiện các dưỡng chất bị thiếu, dư thừa, pH và các chỉ dẫn cần thiết. Nông dân đối chiếu giữa kết quả phân tích đất và lá , quan sát màu sắc lá để đưa ra biện pháp xử lý thích hợp.
Lượng phân bón phải căn cứ vào thành phần các chất dễ tiêu trong đất, khả năng độn và khả năng trao đổi cation CEC. Đất có CEC cao sẽ giữ các cation trong đất cao, cho phép cung cấp các chất dinh dưỡng đều đặc cho cây. CEC thấp sẽ không có khả năng kềm giữ chất dinh dưỡng do phần lớn chúng nằm trong do đó đất, khi bón phân cần cẩn thận vì dễ gây ngộ độ.

 * Bón phân 

Phân bón được chia 4-5 lần:

  • Lần đầu bón lót ¼ lượng phân đạm và kali, ½ lượng phân lân và các loại phân trung vi lượng. Nên dùng máy xới vùi phân vào trong đất sau khi rút nước ra, nếu diện tích nhỏ cào bằng tran.
  • Bón thúc lần thứ nhất 2 tháng sau khi cấy, ¼ lượng đạm và kali
  • Bón thúc lần thứ hai 3,5 tháng sau khi cấy, ¼ lượng kali, toàn bộ phân đạm, lân và các loại phân trung vi lượng khác.
  • Bón thúc lần thứ ba ¼ lượng kali còn lại. Vào giai đoạn này cây phát triển củ nên rất cần kali, ít cần phân đạm.

Triệu chứng thiếu dinh dưỡng

  • Thiếu đạm: sen có nhu cầu đạm rất lớn vào giai đoạn tăng trưởng dinh dưỡng. Triệu chứng thiếu đạm xuất hiện trên lá già, phiến lá chuyển sang màu vàng do đạm từ lá già chuyển sang nuôi đỉnh sinh trưởng. Sau đó lá khô nhanh chóng. Thiếu đạm trầm trọng sẽ làm cây lùn lại. Tuy nhiên bón nhiều phân đạm, đặc biệt lúc hình thành củ sẽ kích thích phát triển thân ngầm hơn là củ. Ngộ độc phân đạm phiến lá bị cháy tạo vết hình tròn ở giữa 2 gân lá, nơi trao đổi khí xãy ra.
  • Thiếu lân: sen rất nhạy cãm với phân lân. Thiếu lân lá có biểu hiện màu xanh đậm có những vệt tím (anthocyanosis) trên lá non. Khi thiếu trầm trọng lá sẽ chuyển sang màu tím hòan toàn, gân lá chuyển sang màu xám đen và khô, cây tăng trưởng rất chậm. Thừa lân lá non bị biến dạng, không bung ra được.
  • Thiếu kali: sen có nhu cầu kali rất lớn vào giai đoạn trổ hoa và hình thành củ. Biểu hiện đầu tiên trên là những vệt vàng chạy dọc theo gân lá già. Vệt vàng ngày càng lan rộng sau đó chuyển sang màu nâu.
  • Thiếu ma-nhê (mg): triệu chứng xuất hiện trên lá già, có những đốm vàng giữa 2 gân lá, do Mg di chuyển sang đỉnh sinh trưởng. Thiếu trầm trọng vệt vàng sẽ lan rộng ra cả phiến lá
  • Thiếu calci: thiếu calci có triệu chứng tương tự như thiếu ma-nhê, những đốm vàng xuất hiện trên lá già, sau đó chuyển sang màu Cam. Có khác là lá dòn dễ vỡ

Quản lý dịch hại

Thật khó đưa ra một khuyến cáo về chế độ phun nông dược hoặc  hoàn toàn không sử dụng thuốc đối với cây sen trong một giai đoạn nhất định. Hơn nữa có một số loại thuốc gốc dầu lại độc đối với cây. Chỉ khuyến cáo nông dân quan tâm đến sâu xanh và rệp chích hút. Tốt nhất là nông dân nên xịt thử thuốc ở các nồng độ khác nhau để xem ảnh hưởng của nó đối với sâu hại và sen. Định hướng phần trừ dịch hại đối với cây sen là xác định ngưởng kinh tế để tránh gây thất thu trong từng thời kỳ, cần cân nhắc trong việc phun một loại thuốc đăïc hiệu khi dịch hại xuất hiện sớm. Trong đó không bỏ qua việc sử dụng bẩy dính thu hút rệp chích hút và bẩy chua ngọt hoặc pheromone thu hút bướm sâu xanh.
Việc thả nuôi cá trên các ruộng sen cũng góp phần hạn chế phát triển của một số sâu hại. Tuy nhiên ảnh hưởng của phân bón đối với cá và chất lượng nước chưa được hiểu biết tường tận, nhiều loại nông dược cũng rất ảnh hưởng đến cá.

* Sâu hại

Đối tượng gây hại sen quan trọng nhất ở châu Á là sâu xanh Heliothis sp. Sâu non tấn công lá chỉ vài ngày sau khi cấy. Lúc đầu lá chỉ bị ăn vài lổ, nhưng khi sâu lớn lá chỉ còn trơ gân, sau đó sâu đục bông và gương sen. Sâu kháng thuốc rất nhanh, nên  xịt sớm với loại thuốc Bacillus thuringiensis vì khi sâu lớn vi khuẩn này không phá hủy được hệ thống tiêu hóa. Những gốc thuốc còn hiệu quả là carparyl, pyrethoid và rotenon. Pheromone cũng rất hiệu quả trong thu hút thành trùng nhưng để hạn chế sâu chưa biết rõ.
Rất nhiều loại rệp chích hút tấn công sen, gần thiệt hại đáng kể. Cây mận và xê-ry là ký chủ trung gian của các loại rệp chích hút này. Nhện đỏ cũng rất phổ biến, để lại các vết chích màu vàng trên lá, trị bằng các loại thuốc đặc hiệu như Admire, Confidor, dầu DC plus.
Bướm sâu vẽ bùa Cricotopus ornatus đẻ trứng trên lá, sau đó sâu non đục vào phiến lá, chừa gân lá. Diệt bằng Padan hay B. thuringiensis.

* Bệnh hại

Phổ biến là bệnh đốm phấn do Erysiphe polygoni, Cercospora sp, Ovularia sp và Cylindrocladium hawkesworthii. Chúng tạo những vết bệnh màu vàng, lồi lên trên phiến lá, sau đó chuyển sang màu đen. Bệnh làm giảm quang hợp, ảnh hưởng đến năng suất. Trị bằng các loại thuốc trừ nấm gốc đồng. Bệnh sọc virus do rhabdovirus tạo những sọc vàng trên thân và củ, trên lá có những đốm vàng
Bệnh thối thân do nấm Phythophthora rất phổ biến. Bệnh làm đỉnh sinh trưởng và thân bị thối đen, lây lan rất nhanh trong hồ, triệu chứng ban đầu là lá bị vàng úa cả lá, sau đó khô đi rất nhanh. Mô bị thối đen, bầy nhầy có mùi thối ngay cả rễ vẫn phát triển tốt. Khi hồ bị bệnh, nhổ các sen mắc bệnh đem đốt, hạ mực nước và bón sulphat đồng. Nếu bệnh vẫn tiếp tục lây lan phải khử trùng cả hồ bằng sodium hypochloride.
Bệnh thối củ do nấm Fusarium oxysporum sp nelumbicola và Pythium elongatum. Cả 2 loại nấm này đều tồn tại rất lâu trong đất. Bệnh thường bộc phát khi nhiệt độ cao, ít mưa. Nếu ruộng bị bệnh thì trong mùa tới chọn loại cây trồng khác để canh tác.

5.Thu hoạch

Đối với giống thu hoạch củ, nhổ sen để lấy củ đòi hỏi tốn nhiều công lao động, trong quá trình nhổ, khó tránh làm củ không bị tổn thương. Trở ngại lớn hiện nay của các nước trồng sen lấy củ trên thế giới là không có máy thu hoạch củ sen.
Thông thường, thu hoạch củ sen khi nhiệt độ thấp, ngày ngắn, thân sen khô, củ sen bắt đầu miên trạng. Điều này cho phép cây sen hấp thu tối đa các chất dinh dưỡng để tập trung nuôi củ. Ngoài ra có thể kích thích tạo củ bằng cách rút khô nước.
Để thu hoạch củ sen, trước tiên cần tháo cạn nước ra, sau đó nhổ bằng tay hoặc dùng đinh ba nạy gốc.

Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Trồng nhãn Ido, mỗi năm thu trên 2 tỷ đồng

Những năm gần đây, cây nhãn Ido đã mang lại cho nhiều nông dân cuộc sống sung túc, điển hình như ông Nguyễn Văn Phúc, 60 tuổi, ở ấp Vàm Lịch, xã Chánh An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, mỗi năm lời trên 2 tỷ đồng.

09-05-14_1-ong-nguyen-vn-phuc-ben-phi-gioi-thieu-cy-nhn-ido-dng-r-ho-ket-tri-1
Ông Nguyễn Văn Phúc giới thiệu cây nhãn Ido đang ra hoa kết trái

Ông Phúc chia sẻ, gia đình ông trước đây rất nghèo. Sau nhiều năm trồng lúa không hiệu quả, năm 1992 ông đã quyết định cải tạo đất, đắp bờ, lên liếp trồng nhãn. Nhờ chịu khó đi đó đi đây học hỏi kỹ thuật từ các nhà vườn nên ông đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu. Qua tìm hiểu nhận thấy cây nhãn Ido phát triển nhanh, ít sâu bệnh, năng suất cao và tỷ lệ nhiễm bệnh chổi rồng rất thấp, ông đã đốn bỏ những cây nhãn giống cũ bị bệnh để thay bằng nhãn Ido.

Ông cho biết, lúc đầu do giống nhãn ngoại không phù hợp với khí hậu và môi trường miền Tây Nam bộ nên ông đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu ghép nhãn Ido với nhiều loại nhãn khác để tìm ra cây ưu thế nhất. Cuối cùng ông đã thành công ghép cây Ido với cây long nhãn. Cây phát triển tốt, trái sai và ngon nên ông nhân giống trồng đại trà trên 4.000m2 rồi tiến dần lên đến 4ha, tổng cộng hiện có trên 1.200 gốc nhãn Ido. Hiện các cây đều cho trái, sản lượng mỗi năm từ 70 – 100 tấn trái. Năm 2017 ông ước tính sẽ trên 100 tấn, giá bán dao động từ 30.000 – 40.000đ/kg.

Bí quyết thành công của ông là mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, từ khâu chọn giống, làm đất, bón phân, tưới tiêu, trừ sâu bệnh cho đến lúc thu hoạch ông đều tuân thủ các biện pháp kỹ thuật một cách nghiêm ngặt nên vườn nhãn của ông lúc nào cũng tươi tốt, rất ít khi bị bệnh chổi rồng. Quan trọng là sau khi thu hoạch, ông tiến hành cắt tỉa cành già, cành khô héo, bón thêm phân để cây đâm tược chờ mùa sau. Với cách làm của ông, một công nhãn từ 7 năm tuổi trở lên, năng suất có thể đạt từ 2 – 4 tấn/năm.

09-05-14_2-ong-nguyen-vn-phuc-gioi-thieu-chum-nhn-nhn-ido-tri-no-tron-mu-sc-tuoi-dep
Ông Nguyễn Văn Phúc giới thiệu chùm nhãn Ido trái no tròn, màu sắc tươi đẹp

Ngoài ra, ông còn thành thạo về biện pháp xử lý cho cây ra hoa nghịch vụ. Với tinh thần năng động và sáng tạo trong cách ghép, cách xử lý cho cây ra trái nghịch vụ, ông đã được cấp trên tặng giấy khen “Nhà vườn sáng tạo”. Ngoài ra ông còn nhận được nhiều giải thưởng về hội thi trái ngon ở địa phương và khu vực ĐBSCL.

Nhờ trồng theo hướng VietGAP, không sử dụng các loại hóa chất cấm nên nhãn của ông chất lượng bảo đảm, sau khi kiểm nghiệm không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, các thương lái và các doanh nghiệp từ Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre sẵn sàng đến ký hợp đồng thu mua xuất khẩu.

Theo ông Phúc, về chất lượng, nhãn Ido không thua các loại nhãn khác, đặc biệt hạt nhỏ, cơm dầy và giòn, ít nước, độ ngọt vừa phải, được chọn xuất sang thị trường châu Âu và châu Mỹ.

Tuy nhiên, để bán được với giá cao ông đã nghiên cứu, theo dõi thị trường trái cây, nắm bắt được nhãn Thái Lan xuất bán vào thời điểm tháng 7 và rằm tháng 10 âm lịch nên ông né tránh thu hoạch nhãn vào các thời điểm này. Nhờ vậy mà tránh được cảnh “hàng nhiều dội chợ”.

Thấy ông trồng có hiệu quả, nhiều bà con, kể cả miền Bắc cũng vào tham quan, học hỏi. Nhiều người đánh giá đây là loại nhãn “ăn chắc mặc bền”, giúp cho nhà vườn yên tâm, không sợ đầu ra. Nhiều người ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang tích cực cải tạo đất, trồng bổ sung nhãn Ido trên vườn cây già cỗi, kém hiệu quả để nâng cao thu nhập, tạo cơ hội cho việc mở rộng và phát triển vùng chuyên canh xuất khẩu.

Ông Phúc đang tập trung vào chất lượng sản phẩm đồng thời thời liên kết kết với nông dân xây dựng vùng trồng chuyên canh đạt tiêu chuẩn VietGAP đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh để xây dựng thương hiệu với khách hàng.

“Tuy nhiên muốn nhãn xuất ra thị trường nước ngoài, người trồng ngoài đảm bảo về số lượng, về vệ sinh an toàn thực phẩm còn phải chú trọng đến kích cỡ, màu sắc theo yêu cầu”, ông Phúc nói.

09-05-14_3-cc-thuong-li-thu-mu-nhn-idor
Các thương lái thu mua nhãn Ido
nongdan24g.com-THÀNH HIỆP/NNVN
Đăng tải tại Giao thương | Thẻ , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chưa có năm nào người trồng sầu riêng Châu Thành vui như năm nay!

Người trồng sầu riêng ở Hậu Giang trúng lớn khi giá tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước.
Nhà vườn huyện Châu Thành (Hậu Giang) phấn khởi trong vụ sầu riêng năm nay

Cả tuần nay, ngày nào gia đình ông Nguyễn Văn Đời ở ấp Thạnh Long, xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành (Hậu Giang), cũng có từ 2 – 3 thương lái đến tận vườn sầu riêng để thỏa thuận đặt mua. Hầu hết thương lái đều thống nhất chung mức giá ổn định từ 45.000 – 50.000 đồng/kg. Ông nói: “Giờ thì vào vụ chính nên giá có giảm chút, chứ cách đây một tháng tui bán 60.000 đồng/kg”.

Gần 2ha sầu riêng của gia đình ông Đời, có hơn 1,5ha cho trái, ước sản lượng năm nay khoảng 18 tấn. Chỉ chúng tôi xem những cây sầu riêng trĩu quả sắp đến kỳ thu hoạch tới, ông Đời tiếc nuối: “Phải chi bờ sầu riêng này kịp thu hoạch trong đợt trước đó chắc chắn thu nhập sẽ cao hơn nữa”. Chưa có năm nào người trồng sầu riêng ở Châu Thành lại được hưởng niềm vui như năm nay.

Chúng tôi tiếp tục đến thăm vườn sầu riêng của ông Phạm Văn Phước ở ấp Phước Tiến, xã Đông Thạnh, Châu Thành. Có lẽ hàng chục năm gắn bó với chuyện làm vườn, năm nay ông Phước mới cảm nhận niềm vui thật sự. Cách đây 4 năm, hơn 3 công vườn tạp dần được ông chăm chút thay thế xen canh với cây trồng sầu riêng Ri6. Trong đợt thu hoạch đầu tiên cách đây hơn một tháng, dù sản lượng chưa được nhiều chỉ khoảng hơn 0,5 tấn trái, nhưng nhờ giá cao (60.000 đồng/kg), ông thu về trên 30 triệu đồng.

Ông Phước nói: “Mấy ngày nay, thấy giá sầu riêng vẫn cứ cao, khiến tôi vô cùng háo hức, ngày nào cũng ra vườn trông coi và mong đợt sầu riêng tới còn đứng giá thì tui cầm chắc trong tay từ 100 triệu đồng trở lên”.

Hầu hết các nhà vườn có chung nhận định: Giá sầu riêng ngất ngưởng như vậy, chắc chắn thu khoảng 400 – 500 triệu đồng/ha. Ông Lê Vĩnh Bảo, chủ tịch UBND xã Đông Thạnh cho hay: “Trên địa bàn xã có khoảng 4ha sầu riêng cho trái dự kiến sản lượng từ 40 tấn trở lên. Có thể nói năm nay người trồng sầu riêng ở Đông Thạnh đạt siêu lợi nhuận”.

Cùng với chúng tôi tham quan một số vườn sầu riêng trĩu quả, ông Nguyễn Văn Trương – Phó trưởng phòng NN-PTNT huyện Châu Thành thông tin thêm: Trên địa bàn huyện hiện có hơn 10ha sầu riêng, trồng nhiều nhất là xã Đông Thạnh, Đông Phước A, thị trấn Ngã Sáu, trong đó có hơn 9ha cho thu hoạch, ước tính sản lượng năm nay khoảng 120 tấn. Tuy sầu riêng chưa phải là cây trồng chủ lực, không nằm trong hoạch định phát triển kinh tế của huyện, nhưng ngành chúng tôi sẽ hỗ trợ nhà vườn về kỹ thuật, giúp bà con bảo toàn năng suất và chất lượng sản phẩm.

nongdan24g.com-QUỐC VƯƠNG/ NNVN
Đăng tải tại Giao thương | Thẻ , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Cây mít Mã Lai 11 năm tuổi “oằn mình” gánh 500 quả dày đặc

Trồng được 4 năm, cây mít của bà Trần Thị Nhàn (phường Lê Hồng Phong, TP Quảng Ngãi) bắt đầu cho trái. Đến nay cây mít 11 năm tuổi, năm sau ra trái nhiều hơn năm trước. Hiện nay, cây mít ra trái dày đặc với số lượng ước chừng 500 trái.

Trồng được 4 năm, cây mít của bà Trần Thị Nhàn (phường Lê Hồng Phong, TP Quảng Ngãi) bắt đầu cho trái. Đến nay cây mít 11 năm tuổi, năm sau ra trái nhiều hơn năm trước. Hiện nay, cây mít ra trái dày đặc với số lượng ước chừng 500 trái.

 cay mit ma lai 11 nam tuoi "oan minh" ganh 500 qua day dac hinh anh 1

Bà Trần Thị Nhàn bên cây mít lúc lỉu trái.

Theo bà Trần Thị Nhàn, đây là giống mít Mã Lai bà được một người bạn tặng cách đây 11 năm. Sau khi trồng được 4 năm, cây bắt đầu cho trái. Năm đầu chỉ vài chục trái, đến năm thứ 7 gia đình bà đếm được trên 150 trái. Bắt đầu từ những mùa sau, cây mít ra trái nhiều đến nỗi bà đếm không xuể.

“Mùa mít năm ngoái, nhiều người đến xem và cá độ với nhau về số lượng trái. Sau đó đếm thử thì được 460 trái. Riêng năm nay, số lượng trái nhiều hơn so với năm ngoái, ước chừng khoảng 500 trái”, bà Nhàn cho biết.

 cay mit ma lai 11 nam tuoi "oan minh" ganh 500 qua day dac hinh anh 2

Cây mít bắt đầu ra trái từ lúc 4 năm tuổi, năm sau cho nhiều trái hơn năm trước gấp bội lần.

Cây mít này có đường kính gốc trên 80 cm, những năm đầu cây mít cho trái sát gốc nên phần lớn trái nằm trên mặt đất. Qua nhiều mùa, trái bắt đầu “bò” lên cao và ngày càng nhiều hơn. Nhiều chùm mít có đến 15 – 16 trái với kích cỡ khá đều nhau. Tất cả số trái trên cây đều phát triển tốt, không sâu bệnh.

Theo bà Nhàn, trọng lượng trung bình của mỗi trái mít khi chín tầm 1,5 kg, hạt rất nhỏ, múi đều và có mùi thơm ngào ngạt.

 cay mit ma lai 11 nam tuoi "oan minh" ganh 500 qua day dac hinh anh 3

Năm nay, cây mít ra khoảng 500 trái

Việc chăm sóc cây mít không có gì đặc biệt. Bà thường xuyên gom lá khô vun vào gốc mít để tạo mùn chứ không dùng phân bón hóa học. Theo như các năm trước, đến cuối tháng 6 mít bắt đầu chín rộ. Sau khi mít chín, chủ nhân mang biếu họ hàng, làng xóm cùng thưởng thức.

nongdan24g.com-Hà Xuyên (Dân Trí)
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Mô hình giảm bớt mồ hôi cho nông dân

Làm sao để vơi đi những giọt mồ hôi cho người nông dân lúc nắng lửa ngoài đồng? Làm sao để người nông dân không còn muốn bỏ hoang ruộng đất vì hiệu quả kinh tế thấp?

Giống mới nào phù hợp?

Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống và cơ giới hoá đồng bộ trong sản xuất lúa chính là một phần của câu trả lời. Thực hiện kế hoạch công tác khuyến nông năm 2017, Sở NN-PTNT Hà Nội tiếp tục chỉ đạo Trung tâm Khuyến nông xây dựng các mô hình trình diễn với cây lúa.

14-40-11_dsc_8462
Máy gặt đập liên hợp giải phóng sức lao động, phục vụ sản xuất hàng hóa

Cụ thể, mô hình trình diễn các giống lúa mới năng suất, chất lượng với quy mô 200ha, triển khai ở 15 điểm của 10 huyện. Tham gia trình diễn là các giống lúa thuần có thời gian sinh trưởng ngắn tương tự như Khang dân 18 nhưng có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, có tính thích ứng rộng, cho năng suất cao, chất lượng tốt hơn đó là Kim cương 111, VT-NA2, Đại Dương 2, J02, Nếp thơm Hưng Yên. Mô hình đưa cơ giới hóa trong sản xuất lúa bằng dây chuyền gieo mạ khay tự động (3 dây chuyền), máy gặt đập liên hợp (7 máy), máy cấy lúa (4 máy).

Đối với mô hình trình diễn các giống lúa mới được hỗ trợ 100% giống; 30% phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ; Đối với các mô hình cơ giới hóa trong sản xuất lúa được hỗ trợ 50% giá máy, thiết bị nhưng không quá 75 triệu đồng/1 máy.

Qua theo dõi đánh giá các giống lúa mới, về năng suất đều cho cao hơn so với đối chứng từ 2,3 – 18,2 tạ/ha, riêng giống Kim cương 111 cho năng suất cao nhất, trung bình 66,8 tạ/ha, cao hơn so với đối chứng trên 10 tạ/ha. Về chất lượng gạo, cơm đều được đánh giá ngon hơn so với đối chứng, đặc biệt là 3 giống lúa J02, Đại Dương 2, Nếp thơm Hưng Yên. Về hiệu quả kinh tế đều cao hơn so với Khang dân 18 từ 4.087.000 – 15.341.000 đồng/ha, đặc biệt là 2 giống Nếp thơm Hưng Yên và J02 với giá bán cao, nên đã đem lại hiệu quả vượt trội cao gần gấp 2 lần so với đối chứng.

Cơ giới hóa đồng bộ, vì sao lan chậm?

Nông dân muốn bỏ trồng lúa không chỉ bởi hiệu quả thấp mà còn bởi quá vất vả, nặng nhọc so với các ngành nghề khác. Xác định được mấu chốt đó, từ kết quả đạt được về áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa những năm qua, năm 2017 Trung tâm Khuyến nông Hà Nội tập trung hỗ trợ vào các khâu có tỷ lệ cơ giới hóa còn thấp như cơ giới hóa khâu gieo cấy và khâu thu hoạch nhằm từng bước mở rộng áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa. Với các loại máy của hãng Kubota Nhật bản, cơ bản là phù hợp với điều kiện cấy hái của Hà Nội, giảm bớt tối đa công lao động nhọc nhằn, nâng cao năng suất lao động.

Cụ thể, với dây chuyền gieo mạ khay tự động, năng suất trung bình 1 giờ gieo được 500 khay, cấy được cho 2ha, nếu 1 ngày gieo trong 8 giờ thì được 4.000 khay, cấy được 16ha. Đưa dây chuyền gieo mạ khay tự động vào sản xuất để thúc đẩy cơ giới hóa khâu cấy lúa bằng máy, nhằm giải phóng sức lao động cho chị em phụ nữ, đáp ứng được tính khẩn trương của thời vụ, giảm được áp lực thuê mướn nhân công trong lúc thời vụ, giảm chi phí cho người trồng lúa từ 1,5 – 2,0 triệu đồng/ha, nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Máy cấy, với máy cấy 4 hàng, trung bình 1 ngày cấy được 1ha, tương đương 30 người cấy lúa theo truyền thống. Với máy cấy 6 hàng, trung bình 1 ngày cấy được 3ha, bằng 90 người cấy theo truyền thống. Cấy bằng máy do được cấy mạ non, cấy nông, cấy thưa nên lúa đẻ sớm, đẻ khỏe, tập trung, bông lúa to, dài, cho năng suất cao hơn lúa cấy theo truyền thống từ 10 – 15%, giảm chi phí cho người sản xuất từ 2,5 – 3,0 triệu đồng/ha.

Mặt khác do cấy thưa, ruộng lúa thông thoáng, giảm sâu bệnh, giảm chi phí mua thuốc BVTV, giảm công phun thuốc, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đặc biệt cấy lúa bằng máy giúp nâng cao được nhận thức cho người nông dân, thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Nâng cao vai trò dịch vụ của HTXNN, từng bước hình thành vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung.

Máy gặt đập liên hợp Kubota DC 70 cho năng suất gặt trung bình được 3,0ha/ngày/10giờ, tỷ lệ hao hụt thấp, giảm chi phí cho người sản xuất so với gặt lúa thủ công, tuốt bằng máy phụt từ 3,0 – 4,0 triệu đồng/ha. Mặt khác thu hoạch bằng máy thời gian thu hoạch được rút ngắn, không bị áp lực của thời tiết và đặc biệt là rơm rạ được rải đều trên ruộng, không gây cản trở giao thông, trả lại cho đất một nguồn phân hữu cơ đáng kể, đáp ứng được yêu cầu phát triển nền nông nghiệp bền vững.

Như vậy nếu áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa từ khâu làm đất, gieo cấy đến thu hoạch thì ngoài việc tăng lợi nhuận cho các chủ máy, chi phí sản xuất của người trồng lúa cũng giảm được từ 7,0 – 9,0 triệu đồng/ha (30 – 50%) so với sản xuất theo phương pháp thủ công. Mặt khác thời gian lao động được rút ngắn, lao động dôi dư chuyển sang làm việc khác, đem lại thu nhập đáng kể cho người lao động.

Tuy lợi thế như vậy, nhưng cơ giới hóa đồng bộ hiện vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng ở Thủ đô. Ví dụ như ở huyện Thạch Thất mô hình khuyến nông này mới chỉ được áp dụng ở phạm vi khoảng 50ha/vụ trong khi tổng diện tích cấy của huyện là 4.500ha/vụ. Một phần bởi được chuyển giao từng công đoạn một như máy cấy đưa vào 2012, dây chuyền mạ khay 2014, máy gặt đập liên hợp 2015. Một phần bởi cơ giới hóa đồng bộ cần ruộng đồng lớn trong khi sau khi dồn điền đổi thửa, ruộng đồng của bà con vẫn còn nhiều manh mún, khó cho máy móc xuống đồng, khó cho cấy cùng giống, gặt cùng trà. Cấy máy rất thưa nên với thói quen cấy dầy sẵn có, dân trông chưa quen mắt.

Mạ khay máy cấy sở dĩ khó vào nhanh như máy gặt liên hợp bởi phụ thuộc vào kỹ thuật làm mạ và kỹ thuật lái máy phức tạp hơn nhiều. Mạ phải chuẩn, lái máy phải thật đều trong khi đó người sử dụng máy, thiết bị hầu hết chưa được đào tạo hoặc trang bị những kiến thức cơ bản, nên quá trình thực hiện gặp khó khăn. Nhiều nơi chưa chủ động được giá thể, chưa tuân thủ nghiêm qui trình kỹ thuật, mạ gieo không đều, khi cấy bị mất khoảng, số dảnh cấy không đều, tốn công tỉa dặm nên không chứng minh tính ưu việt của phương pháp mới. Chưa có cơ sở dịch vụ sửa chữa tại chỗ nên đôi khi gặp sự cố nhỏ, không khắc phục được kịp thời, nên ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất…

Mô hình áp dụng đồng bộ cơ giới hóa trong sản xuất lúa đã giúp giảm chi phí cho người sản xuất từ 30 – 50%, giải phóng sức lao động, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, thúc đẩy hình thành các HTX, tổ dịch vụ. Thực tế đã chứng minh, riêng với máy cấy loại lớn nhiều hàng tỏ rõ lợi thế hơn loại nhỏ.
nongdan24g.com-VÂN ĐÌNH-NNVN
Đăng tải tại Nông dân 24G | Thẻ , , , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Trồng dược liệu, chưa tròn 1 năm đã có ngay 200 triệu đồng/ha

Việc chuyển đổi từ cây trồng kém hiệu quả sang trồng cây công nghiệp, cây dược liệu là hướng đi hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp đang được bà con nông dân xã Noong Luống (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) tích cực hưởng ứng, với triển vọng thu nhập khá.

Trò chuyện với chúng tôi, chị Nguyễn Thị Hảo ở đội 18, xã Noong Luống, một trong những hộ lần đầu trồng cây dược liệu tâm sự: “Gia đình tôi cũng như các hộ dân ở đây quen trồng lúa, màu từ bao năm, song khi lúa, màu được mùa lại mất giá nên cuộc sống khá vất vả. Vừa qua, được Công ty CP Thương mại Dược vật tư y tế Khải Hà vận động trồng cây dược liệu, gia đình tôi đã hào hứng tham gia với diện tích 400m2”.

Chị Nguyễn Thị Hảo, người dân đội 18, xã Noong Luống, huyện Điện Biên chăm sóc vườn dược liệu của gia đình. Ảnh: Vinh Duy

Theo đó, năm đầu tiên trồng dược liệu nông dân được hỗ trợ 100% giống, phân bón và hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc; được bao tiêu đầu ra. Nếu không may mất mùa, doanh nghiệp sẽ hỗ trợ chi phí sản xuất. Chị Hảo cho biết: “Nếu thuận lợi, năm sau tôi sẽ trồng dược liệu trên toàn bộ 2.000m2 đất. Từ khi trồng đến nay đã hơn 4 tháng, qua đánh giá của công ty, hiện cây sinh trưởng phát triển tốt, đang có củ và dự kiến tháng 10.2017 sẽ cho thu hoạch”.

Cách đó không xa, chị Nguyễn Thị Nguyệt cũng đang chăm sóc vườn cây đương quy và bạch chỉ của gia đình. Chị Nguyệt cho biết: Việc trồng và chăm cây dược liệu cần phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, từ khâu làm đất, gieo hạt đến làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh… Trong đó, quan trọng nhất là khâu làm đất, đánh luống gieo hạt, đất phải đủ dinh dưỡng, được phủ nilon để giữ ẩm và ngăn cỏ dại.

Ông Nguyễn Văn Khải – Tổng Giám đốc Công ty CP Thương mại Dược vật tư y tế Khải Hà đánh giá: “Tỉnh Điện Biên rất có tiềm năng trồng và phát triển cây dược liệu, trong khi đó trồng cây dược liệu quý cho thu nhập cao gấp nhiều lần trồng lúa. Bình quân, 1ha với thời gian chăm sóc từ 9 – 10 tháng, trừ chi phí, cây đương quy có thể cho thu nhập từ 100 – 220 triệu đồng; bạch chỉ từ 90 – 200 triệu đồng. Cũng với thời gian ấy, nếu trồng 2 vụ lúa trừ chi phí thu lãi chỉ khoảng 40 – 52 triệu đồng, mà rất vất vả”.

Ông Lò Văn Pọm – Chủ tịch UBND xã Noong Luống, cho biết: Hiện toàn xã có 11 hộ ở đội 18 trồng được hơn 2ha cây dược liệu, chủ yếu là cây đương quy và bạch chỉ.

Đây là diện tích thuộc dự án “ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phát triển sản xuất, chế biến cây thuốc đương quy và bạch chỉ tại tỉnh Điện Biên”, do Công ty CP Thương mại Dược vật tư y tế Khải Hà làm chủ nhiệm. Dự án trồng thí điểm vào năm 2016 và hiện đang nhân rộng trong dân. Theo đó, công ty đang hỗ trợ phân bón, giống cho người dân và cam kết thu mua sản phẩm với giá cố định là 17.000 đồng/kg đương quy, 8.000 đồng/kg bạch chỉ.

Ông Nguyễn Văn Khải cũng nhấn mạnh: “Công ty sẽ tiếp tục hỗ trợ người dân mở rộng diện tích và ký cam kết sẽ bao tiêu sản phẩm cho bà con. Chúng tôi sẽ bao tiêu toàn bộ sản phẩm, không để người dân phải chịu cảnh bị ép giá như trồng các loại cây khác. Cụ thể, công ty sẽ ký hợp đồng, cam kết mua đúng giá và hỗ trợ về kỹ thuật để người dân có thể làm giàu trên diện tích đất hiện có”.

nongdan24g.com-Danviet.vn
Đăng tải tại Cà phê | Thẻ , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?