Giá gạo Việt Nam: Vì sao vẫn mãi chật vật?

Thay vì xuất khẩu ồ ạt với giá thấp, Việt Nam nên hướng đến xuất khẩu tập trung vào gạo phẩm cấp cao.

Kết thúc năm 2014, gạo Việt Nam đã có mặt ở 135 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm cả các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore. Và theo Bộ Công Thương, năm ngoái Việt Nam đã xuất khẩu được 6,5 triệu tấn gạo, trị giá theo FOB là 2,840 tỉ USD và trị giá theo CIF là 2,990 tỉ USD. Nhìn vào các số liệu trên, những tưởng người nông dân Việt Nam đã “đổi đời”, nhưng thực tế lại cho thấy điều ngược lại.

Chính sách tạm trữ lúa gạo: Làm lợi cho ai?

Cứ đến vụ thu hoạch là người nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long luôn gặp phải “ác mộng” được mùa mất giá hoặc ngược lại. Vì thế, để giúp nông dân giải quyết sản lượng lớn sau thu hoạch, từ nhiều năm nay Chính phủ luôn có chính sách thu mua tạm trữ lúa gạo.

Ông Huỳnh Minh Huệ, Tổng thư ký Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), đánh giá: “Chính sách thu mua tạm trữ là chính sách hiệu quả và là hiệu quả kép. Đây là biện pháp thị trường nhằm kích cầu và giữ ổn định, nâng giá lúa gạo trên thị trường nhằm gián tiếp hỗ trợ giá bán cho người nông dân”.

Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng hỗ trợ của Chính phủ về việc mua tạm trữ chỉ có lợi cho doanh nghiệp mà chưa có lợi cho nông dân. Và cũng có ý kiến đề xuất làm sao những hỗ trợ này trực tiếp đến nông dân để họ chủ động tạm trữ, tránh phụ thuộc vào thương lái và doanh nghiệp về tiến độ thu mua, đặc biệt là về giá.

Có một thực tế là cứ đến thời điểm mua tạm trữ, thương lái và doanh nghiệp lại “đủng đỉnh” với nhiều lý do từ việc năng lực hạn chế không theo kịp thị trường, đến việc ngân hàng giải ngân chậm…, để rồi ép giá nông dân.

Theo tính toán của cơ quan chuyên môn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp thì không tính công sức chăm sóc của chủ đất, bình quân tổng chi phí cho mỗi hecta lúa ở Tân Hồng lên đến 25 triệu đồng. Với năng suất bình quân gần 8 tấn/ha (vụ Đông Xuân) và giá bán 4.500 đồng/kg như hiện nay, tổng thu mỗi hecta vào khoảng 36 triệu đồng. Ước tính nông dân ở đây lãi khoảng hơn 10 triệu đồng/ha.

Tuy nhiên, ông Huỳnh Kim Hải, nông dân tại thị trấn Sa Rài, Tân Hồng, lại phân tích: “Do đặc thù vùng đầu nguồn, Tân Hồng chỉ sản xuất 2 vụ/năm. Vì vậy, mức lãi này là thu nhập cho cả 6 tháng. Tính bình quân mỗi hộ với 4 nhân khẩu có 1 ha đất, lãi khoảng 12 triệu đồng, tức mỗi người được 3 triệu đồng. Nhưng nếu trải dài ra 6 tháng, con số này chỉ là 500.000 đồng/người/tháng”.

Với thực tế trên, không có gì khó hiểu khi đời sống người nông dân Việt Nam vẫn mãi chật vật.

Tìm đường cho gạo Việt

Giá gạo của Việt Nam trên thị trường quốc tế được đánh giá là thấp và điều này tác động trực tiếp tới giá mua tạm trữ hằng năm. Hiểu đơn giản, hiện nay các doanh nghiệp tham gia thu mua tạm trữ chủ yếu là để dành cho xuất khẩu; việc tiêu thụ nội địa chiếm tỉ trọng rất thấp. Do đó, giá mua tạm trữ phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, chưa kể đến một số yếu tố khác như năng lực chế biến, bảo quản, vốn của doanh nghiệp.

Lý giải vấn đề này, ông Huệ cho biết Việt Nam là nước sản xuất thừa lúa gạo, một phần còn gánh cho cả lúa gạo Campuchia chuyển sang. Từ năm 2012 trở lại đây và một vài năm sắp tới Việt Nam đã và sẽ ở trong tình trạng sản lượng tăng dẫn đến cung cấp thừa. Trong khi đó, các nước xuất khẩu khác như Thái Lan, Ấn Độ cũng tăng sản lượng để bảo vệ nông dân nước họ.

Bản thân các nước nhập khẩu cũng khuyến khích nông dân tăng sản lượng lúa gạo, bảo đảm an ninh lương thực, không lệ thuộc vào việc nhập khẩu lúa gạo. Đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thừa nguồn cung. Chính tình trạng sản xuất thừa đang tạo áp lực lớn cho thị trường và càng làm giá gạo sụt giảm.

Một nguyên nhân quan trọng khác khiến gạo Việt Nam bị đánh giá thấp là do chất lượng gạo thấp. Xuất phát từ tập quán canh tác, nông dân Việt Nam sản xuất 2 – 3 vụ/năm. Thời gian sinh trưởng ngắn đã khiến chất lượng gạo không đảm bảo.

Hiện nay Việt Nam chủ yếu sản xuất gạo hạt dài Indica nhưng lại có chất lượng luôn thấp hơn các nước khác (phổ biến có 2 loại gạo: loại Indica là hạt dài, loại Japonica là hạt tròn). Ở Việt Nam quy định cỡ hạt dài là 62 mm, trong khi ở vùng Đông Bắc Thái Lan, giống gạo hạt dài của họ là 7 mm và có thể dài hơn. Đó là chưa kể đến việc sử dụng giống ngắn ngày ở Việt Nam khiến gạo bị bạc bụng, không trong suốt như gạo Thái.

Ở Đông Bắc Thái Lan, có đến trên 60% diện tích chỉ trồng 1 vụ/năm theo mùa mưa; ở miền Trung nước này có hồ chứa nước nhưng chỉ trồng tối đa 2 vụ/năm. Ngay giống gạo thơm cao cấp ở Thái Lan cũng chỉ trồng 1 vụ/năm. Thời gian mỗi vụ thường kéo dài từ 4 tháng đến hơn 4 tháng. Thời gian sinh trưởng dài hơn đã giúp đảm bảo cho chất lượng gạo. Với đặc điểm và tập quán sản xuất này, gạo Thái Lan luôn có chất lượng cao hơn so với gạo Việt Nam.

Trong khi đó, ở Ấn Độ, nông dân nước này hiện chủ yếu trồng giống gạo trắng IR64, cũng đảm bảo được độ dài (7,19 mm). Còn ở Pakistan thì trồng giống I6 nên độ dài cũng đạt tới 68 mm.

Mặt khác, đứng ở góc độ doanh nghiệp, hầu hết doanh nghiệp Việt có quy mô vừa và nhỏ, năng lực vốn thấp, sức chịu đựng yếu, đi vay ngân hàng từ 3-4 tháng với mức lãi suất thực tế còn cao, khả năng tiếp cận vốn khó. Khi đến hạn trả nợ, do vốn không nhiều, lại sợ bị đưa vào “danh sách đen” nên doanh nghiệp phải bán hàng với giá thấp để trả nợ ngân hàng. Đây cũng là một nguyên nhân khiến giá gạo của Việt Nam ở mức thấp.

Cũng cần nói thêm, hiện nay Việt Nam có 2 kênh bán hàng: một là theo các hợp đồng Chính phủ, hai là bán theo các hợp đồng thương mại. Từ năm 2012 trở về trước, hợp đồng Chính phủ đóng vai trò quan trọng, thường chiếm đến 50% hợp đồng xuất khẩu, nên trong việc mua tạm trữ, có thể chủ động được giá bao tiêu.

Chính nhờ 50% tỉ trọng các hợp đồng Chính phủ này mà các nhà điều hành kiểm soát được thị trường, giữ đối trọng với thương nhân và giữ được giá thị trường thương mại, ít nhất cũng phải tương đương với giá hợp đồng tập trung. Tuy nhiên, từ năm 2012 trở lại đây, Việt Nam bị mất đối trọng này do các hợp đồng tập trung bị cắt giảm mạnh. Điều này cũng góp phần khiến giá gạo Việt Nam xuống thấp.

Trong điều hành giá gạo, có hai mục tiêu quan trọng: một là tiêu thụ kịp thời sản lượng của mỗi vụ lúa; hai là đảm bảo hiệu quả sản xuất cho người nông dân, cụ thể là giá lúa. Hiện nay Việt Nam ưu tiên mục tiêu thứ nhất, tức mục tiêu tiêu thụ kịp thời lúa gạo hàng hóa, tránh tồn kho, trong khi ưu tiên thứ hai mới là bảo đảm hiệu quả. Do đó, cần có sự cân bằng hài hòa giữa hai mục tiêu trong công tác điều hành. Nếu chú trọng việc tiêu thụ thì sẽ phải hạ mục tiêu hiệu quả và ngược lại. Với thực trạng trên, có lẽ đã đến lúc cần xem xét lại mục tiêu trong điều hành.

Bên cạnh đó, việc thay đổi các chính sách về xuất khẩu gạo, tạm trữ lúa gạo, hạn điền… để cải thiện thu nhập cho người nông dân cũng rất cần thiết. Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), cho rằng: “Thay vì xuất khẩu gạo ồ ạt với giá thấp, Việt Nam nên hướng đến xuất khẩu tập trung vào những loại gạo phẩm cấp cao. Và để tạo môi trường có tính cạnh tranh hơn trong xuất khẩu lúa gạo, Việt Nam chỉ cần giới hạn quản lý ở chất lượng đầu ra của gạo và ở việc xây dựng vùng nguyên liệu của doanh nghiệp”.

nongdan24g.com-Theo NCĐT

Advertisements

About nongdan24g

Nông dân 24giờ mỗi ngày cùng lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, những hạt lúa thơm ngon, thực phẩm giàu dinh dưỡng ... và giàu lên nhờ nông nghiệp. Hãy ghé mỗi ngày tại www.nongdan24g.com để có tin nông nghiệp sản xuất mới nhất.
Bài này đã được đăng trong Giao thương và được gắn thẻ , , , , , , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s